.

Để khai thác tiềm năng thủy sản có hiệu quả

.
08:33, Thứ Tư, 25/07/2012 (GMT+7)

(QBĐT) - Tỉnh ta có bờ biển dài, nhiều cửa sông là yếu tố thuận lợi để phát triển khai thác thủy sản. Tuy nhiên, để phát huy lợi thế và tiềm năng của nghề cá, góp phần tăng sản lượng đánh bắt hải sản xa bờ, giảm áp lực khai thác ven bờ, tăng thu nhập cho cộng đồng cư dân ven biển và bảo vệ an ninh chủ quyền trên vùng biển thì cần có một chiến lược dài hơi cho chương trình đánh bắt thủy sản…

Mất cân đối giữa số lượng tàu thuyền và sản lượng khai thác

Vào thời điểm năm 2010, toàn tỉnh ta có 4.926 tàu thuyền đánh cá, chiếm trên 3,8% tổng số tàu thuyền cả nước (đứng thứ 10 trên toàn quốc) và chiếm trên 19% số tàu thuyền vùng Bắc Trung bộ. Sản lượng khai thác đạt gần 41.000 tấn, chiếm 16,5% sản lượng vùng Bắc Trung bộ và đứng thứ 3 trong vùng. Đây được coi là sự nỗ lực rất lớn của bà con ngư dân ở các địa phương trong tỉnh.

Tuy nhiên, khi nhìn qua tỉnh bạn thuộc vùng Bắc Trung bộ, chúng ta không khỏi chạnh lòng và tự đặt dấu hỏi vì sao...? Nói như vậy bởi lẽ, tỉnh bạn mà cụ thể ở đây là tỉnh Nghệ An dù chỉ có 3.401 tàu thuyền nhưng sản lượng khai thác đạt đến con số 56.000 tấn. Như vậy, nếu so sánh chỉ tiêu về sản lượng bình quân trên tổng số tàu thuyền của Quảng Bình với cả nước và vùng Bắc Trung bộ thì cho kết quả là, Quảng Bình chỉ xếp thứ 3/6 tỉnh Bắc Trung bộ (sau Thanh Hóa và Nghệ An) nhưng thấp hơn bình quân cả nước gần 2,3 lần và thấp hơn bình quân của vùng Bắc Trung bộ trên 1,1 lần.

Ngư dân xã Cảnh Dương đóng mới tàu thuyền để vươn ra khơi xa.
Ngư dân xã Cảnh Dương đóng mới tàu thuyền để vươn ra khơi xa.

Còn đến thời điểm hiện nay, tổng số tàu thuyền nghề cá tỉnh ta có 4.372 chiếc với tổng công suất đạt 249.441 CV, trong đó có 2.727 chiếc dưới 20CV và 1.645 chiếc tàu từ 20 CV trở lên. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2012, tổng sản lượng thủy sản khai thác toàn tỉnh đạt 19.891 tấn, đạt 48,5% kế hoạch năm. Điều này cho thấy ngành khai thác của tỉnh đang có sự mất cân đối giữa số lượng tàu thuyền và sản lượng khai thác.

Minh chứng rõ nét nhất là, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010, tổng số tàu thuyền tăng từ 3.450 lên 4.926 chiếc, tốc độ tăng bình quân 7,38%/năm và từ năm 2010 đến nay, dù số lượng tàu đã phát triển theo hướng tích cực (giảm số lượng tàu nhưng lại tăng công suất) từ tổng công suất tàu thuyền chỉ đạt 200.287 CV thì nay đã nâng lên 249.441 CV nhưng tổng sản lượng khai thác thủy sản toàn tỉnh trong những năm qua cũng chỉ dao động ngang mức trên, dưới 40.000 tấn/năm.

Lý giải điều này, ông Lê Minh Phú, Chi cục phó Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho biết, mặc dù có số lượng tàu thuyền lớn, song số lượng tàu có công suất dưới 20CV lại chiếm tỷ lệ cao (gần 67% tổng số tàu thuyền toàn tỉnh) và đây chính là áp lực cần nhanh chóng thay đổi.

Những khó khăn cần khắc phục

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, toàn tỉnh hiện chỉ có 22 tàu đánh bắt xa khơi có công suất trên 400 CV trên tổng số 1.645 tàu có công suất từ 20 CV trở lên. Trong đó, xã Bảo Ninh (Đồng Hới) chiếm ngôi vị “quán quân” với 19 tàu, còn lại thuộc về 3 xã gồm: Quảng Phúc, Quảng Lộc (Quảng Trạch) và Đức Trạch (Bố Trạch).

Một điều dễ nhận thấy là, trong những năm qua tàu thuyền khai thác xa bờ tuy có bước phát triển nhưng tỷ lệ tàu cá có kích thước và công suất lớn bảo đảm khai thác xa bờ vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số tàu cá. Đặc biệt, tại một số địa phương có nghề đánh bắt thủy sản tương đối phát triển như: Cảnh Dương, Quảng Phú (Quảng Trạch), Hải Trạch, Thanh Trạch (Bố Trạch)... thì dường như vắng bóng những con tàu công suất lớn. Trong khi đó, bà con ngư dân muốn vươn khơi và làm giàu từ biển thì yếu tố quyết định đầu tiên chính là ngư dân phải mạnh dạn đầu tư tàu lớn, nâng công suất máy và ra được những ngư trường lớn.

Bên cạnh đó, trình độ, công nghệ khai thác và bảo quản sản phẩm sau khai thác trên các tàu cá xa bờ của ngư dân vẫn ở mức độ thấp; ngư dân trong tỉnh vẫn còn dè dặt và thiếu tự tin trong việc đầu tư và ứng dụng các công nghệ hiện đại vào khai thác hải sản. Xuất phát cũng có thể là do điều kiện kinh tế của ngư dân còn khó khăn nên việc đầu tư phát triển sản xuất còn hạn chế. Song phần lớn là do tập quán, tư tưởng từ trước để lại nên một số ngư dân còn mang nặng theo kiểu “cha truyền con nối” nên ngại tiếp cận KHKT.

Đáng kể như việc áp dụng máy dò cá ngang vào sản xuất trên tàu đánh bắt xa bờ, mặc dù được triển khai lắp đặt từ năm 2005 nhưng đến nay, toàn tỉnh mới chỉ có 2 tàu đầu tư lắp đặt và đi vào vận hành sản xuất. Rồi việc tàu đánh bắt xa bờ ứng dụng bảo quản sản phẩm bằng vật liệu composite chống thấm chỉ được 1 đến 2 tàu hưởng ứng... Mặt khác, hiện nay các cơ sở hạ tầng nghề cá như: cảng cá, cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá, khu neo đậu tránh trú bão mặc dù đã được đầu tư nhưng chưa theo kịp với yêu cầu phục vụ sản xuất.

Khâu tổ chức dịch vụ hậu cần nghề cá và tiêu thụ sản phẩm cho ngư dân vẫn còn là chuyện đáng bàn, đặc biệt là việc tổ chức dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển. Ngoài ra, công tác dự báo ngư trường và việc theo dõi, quản lý, giám sát hoạt động nghề cá, phòng chống lụt bão trên biển vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, hoạt động đánh bắt và khai thác thủy của bà con ngư dân ở các địa phương chưa ổn định, dẫn đến năng suất và hiệu quả đạt được còn nhiều hạn chế.

Để khai thác tiềm năng hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả đánh bắt thủy sản cho ngư dân, bên cạnh việc có chính sách mạnh mẽ hơn nữa khuyến khích, hỗ trợ ngư dân về; đóng tàu mới, đầu tư trang thiết bị, dự phòng rủi ro do thiên tai để ngư dân tiếp tục bám biển lâu dài và khai thác nguồn thủy sản có giá trị ở vùng biển xa thì cần có nhiều giải pháp đồng bộ và thiết thực.

Đi đôi với việc giảm bớt chi phí sản xuất, duy trì phát triển khai thác và tạo thêm thu nhập cho ngư dân, thì trước hết cần có những mô hình giới thiệu công nghệ đánh bắt hiện đại, mang lại hiệu quả kinh tế cao để ngư dân được tiếp cận, từ đó kích thích sự đầu tư và vươn ra khơi xa của bà con ngư dân.

Ngư dân xã Thanh Trạch bội thu sau một chuyến đánh bắt thủy sản trở về.
Ngư dân xã Thanh Trạch bội thu sau một chuyến đánh bắt thủy sản trở về.

Đặc biệt, các địa phương trong tỉnh cần quan tâm, triển khai và du nhập các mô hình đánh bắt mới, qua đó mới chọn được những ưu điểm để nhân rộng cho ngư dân nhằm thúc đẩy ngành đánh bắt đi lên.

Bà con ngư dân cũng cần mạnh cải hoán đội tàu hoặc đóng mới thay thế cho các tàu cần đào thải bằng các loại tàu khác có kích cỡ lớn, từ 90 CV trở lên để có thể trang thiết bị bảo quản và cải tiến nâng cao hiệu quả ngư cụ phục vụ đắc lực cho hành trình vươn ra khơi xa.

Thực tế cho thấy, việc ngư dân tổ chức sản xuất khai thác hải sản theo hướng hợp tác, phối hợp nhau nâng cao hiệu quả đánh bắt và hỗ trợ nhau phòng chống rủi ro, tai nạn sẽ bảo đảm cho hoạt động nghề cá trên biển phát triển bền vững. Vì vậy, ngư dân ở các địa phương cần tiếp tục triển khai các mô hình liên kết, tổ hợp tác kinh tế trên biển.

Ngoài ra, các địa phương cần huy động thêm nguồn lực hỗ trợ cho ngư dân mà thiết thực nhất là hướng ngư dân thành lập các doanh nghiệp tư nhân sản xuất khai thác thủy sản và kinh doanh dịch vụ thu mua hải sản và dịch vụ cung cấp nhiên liệu trực tiếp trên biển.Việc cung cấp thông tin dự báo ngư trường phục vụ đánh bắt hải sản, đặc biệt là đối với những đội tàu đang hoạt động ở vùng biển xa bờ là rất quan trọng và cần thiết. Đặc biệt, ngay trong định hướng phát triển khai thác thủy sản, các đơn vị liên quan cũng cần phải tính đến tác động của biến đổi khí hậu để tránh thiệt hại về người cũng như tài sản cho ngư dân.

Với mục tiêu phấn đấu là tổng sản lượng khai thác toàn tỉnh đạt ở mức ổn định 40.000 tấn/năm trong các năm tới, trong đó tập trung vào các đối tượng có giá trị cao thì việc tổ chức thành lập và triển khai các mô hình tổ, nhóm tàu hoạt động trên vùng biển xa bờ theo các loại nghề là điều cần thiết. Hiện nay, ngư dân trong tỉnh đang sản xuất với nhiều nghề như: vây rút chì, lưới rê, lưới kéo, nghề câu, nghề chụp, mành, giã, lồng bẫy... Tuy nhiên, mô hình nghề vây đang được coi là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với xu hướng phát triển của nghề cá trên toàn quốc.

Cuối cùng là ngư dân trên các tàu đánh bắt xa bờ cần được bổ sung và nâng cao trình độ về chuyên môn cũng như các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm bảo đảm yêu cầu cho hoạt động khai thác thủy sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

                                                                                                  N. L






 

,