.

Tuyên Hóa: Nan giải chuyện nước sạch

Thứ Ba, 27/08/2013, 07:39 [GMT+7]

(QBĐT) - Mặc dù được người dân chất vấn rất nhiều về vấn đề nước sạch sinh hoạt trong các cuộc họp HĐND các cấp, nhưng  đến nay, huyện Tuyên Hóa vẫn chưa đề ra được giải pháp nào để khắc phục, sửa chữa các công trình nước sạch bị hư hỏng, xuống cấp, trong khi người dân kêu trời vì thiếu nước.

Nhiều công trình nước chưa phát huy hiệu quả

Bước sang thế kỷ 21, chương trình, chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đã làm thay da đổi thịt nhiều xã, thôn bản vùng miền núi Tuyên Hóa, nhất là về cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, nhiều công trình cấp nước sạch ở các xã vùng cao huyện Tuyên Hóa đang trong tình trạng hư hỏng, thậm chí bị “đắp chiếu” trong khi người dân phải dùng nguồn nước ô nhiễm.

Huyện Tuyên Hóa có 13/19 xã, thị trấn đã có nước sạch, mỗi xã có từ 1 đến 2 công trình nước sạch nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao hoặc bị bỏ hoang khi người dân đang thiếu nước. Nhiều xã chưa có nguồn nước sạch phải uống nước phèn, nước ô nhiễm từ sông suối.

Trước thực trạng thiếu nước, năm 2008, các xã Thạch Hóa, Mai Hóa, Phong Hóa, Châu Hóa được tổ chức Đông Tây hội ngộ tài trợ xây dựng công trình nước sạch với số vốn lên tới hàng tỷ đồng cho mỗi công trình. Sau một thời gian khảo sát, thiết kế và thi công, năm 2009 các công trình được đưa vào sử dụng với mục tiêu cấp nước cho các hộ dân hai bên bờ sông Gianh.

Công trình nước sạch tại xã Thạch Hóa bị bỏ hoang nhiều năm nay.
Công trình nước sạch tại xã Thạch Hóa bị bỏ hoang nhiều năm nay.

Tại xã Thạch Hóa, công trình nước sạch là niềm mong ước của bà con nơi đây. Thế nhưng, sau khi bàn giao đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn thì công trình ngừng hoạt động. Nguyên nhân chính là do thiết kế không hợp lý, công suất của máy bơm quá nhỏ, không bảo đảm và những lỗi kỹ thuật khác. Bà con rất bức xúc vì có hệ thống cung cấp nước mà không được sử dụng. Vừa qua, công trình đã được sửa chữa lại nhưng máy vẫn không thể vận hành vì bỏ hoang thời gian quá dài nên đường ống bị hư hỏng nặng, không thể đưa nước về  các hộ gia đình.

Tại xã Mai Hóa, công trình nước sạch sinh hoạt phục vụ dân sinh là một trong những dự án quan trọng, giúp người dân không phải dùng nước sông, nước suối. Công trình có đài cấp nước 35m3, hệ thống ống dài hơn 30km, hai máy bơm nước dưới sông, hai máy lọc nước để cung ứng cho 1.227 hộ/ 2.073 hộ dân xã Mai Hóa. Công trình sau khi nghiệm thu xong chỉ sự dụng, cung ứng cho 800 hộ dân, còn lại 400 hộ dân ở thôn Tân Hóa và thôn Nam Sơn không có nước để dùng.

Ông Lê Trung Châu, Phó chủ tịch UBND xã Mai Hóa cho biết: "Tân Hóa có hơn 300 hộ dân nhưng hầu như không có nước để dùng, người dân chủ yếu dùng nước sông để tắm, giặt còn mua nước bình để uống hoặc đi xin nước giếng ở thôn khác về dùng. Đặc biệt, bà con ở đây không đào được giếng vì khi đào xuống gặp đá ghềnh. Hiện nay, nước sạch sinh hoạt vẫn là vấn đề bà con bức xúc nhất khi tiếp xúc cử tri".

Có thể thấy, nguyên nhân nhiều công trình nước nơi đây hiện không còn sử dụng được, là do bắt nguồn từ việc khảo sát, thiết kế chưa hợp lí. Bên cạnh đó, chất lượng ống nước được chôn lấp phía dưới đất không đúng  theo tiêu chuẩn chống rỉ, rét như bản thiết kế ban đầu. Do đó, khi hoàn thành và đưa vào sử dụng trong một thời gian rất ngắn, thì toàn bộ công trình đã trở thành vô dụng hoặc không phát huy hết hiệu quả.

Dân “kêu trời” vì  giá nước sạch

Hơn 2 năm qua, hàng trăm hộ dân ở xã Thuận Hóa điêu đứng vì giá nước sạch quá cao. Bình quân 18.000 đồng/m3.

Là một xã miền núi rẻo cao, Thuận Hóa đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Xã có 7 thôn bao gồm: Đồng Lào, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, Xuân Canh, Thuận Tiến, Bà Tâm. Với 656 hộ/ 2.700 nhân khẩu thì có tới 350 hộ của 5 thôn không đào được giếng nước (trừ 2 thôn Bà Tâm và Thượng Lào), quanh năm họ phải dùng nước của sông Gianh.

Người dân tập trung các vật dụng để khi có nước về thì phải dự trữ.
Người dân tập trung các vật dụng để khi có nước về thì phải dự trữ.

Trước tình hình khó khăn đó, năm 2009 dự án nước sạch đã đến với dân nghèo nơi đây. Những ngày đầu, bà con vui mừng vì không phải sống trong cảnh thiếu nước. Nhưng niềm vui chưa được trọn vẹn thì người dân thật sự “sốc” vì giá nước lên quá cao so với mức thu nhập của họ.

Ông Phùng Ngọc Anh, Chủ tịch UBND xã Thuận Hóa cho biết: "Nguyên nhân chính làm cho giá nước tăng lên là do nước bị thất thoát mà không có kinh phí để sửa chữa. Đồng hồ tổng hết bao nhiêu khối thì bà con cứ trả bấy nhiêu tiền, tự chia, tự trả, nước thất thoát bà con tự chịu lấy. Chúng tôi mong muốn Công ty TNHH MTV cấp thoát nước Quảng Bình đứng ra thu tiền và quản lý, sửa chữa để người dân không phải chịu cảnh giá nước cao trên trời như vậy".

Trao đổi với ông Lê Văn Nghĩa, Trưởng phòng Hành chính Công ty TNHH MTV cấp thoát nước Quảng Bình, ông Nghĩa cho biết: Chúng tôi chỉ có trách nhiệm bán nước qua đồng hồ tổng theo giá cả của Nhà nước ban hành hiện nay là 5.000 đồng/m3. Xã Thuận Hóa quản lý công trình nước sạch và chỉ mua nước qua công ty chúng tôi, ngoài việc bán nước sạch cho dân thì chúng tôi không có trách nhiệm nào khác".

Đây là một dự án trao tay, khi công trình hoàn thành, được bàn giao lại cho xã quản lý. Thế nhưng nhiều năm qua, hệ thống ống nước bị hư hỏng, thất thoát nhiều, xã không có đủ kinh phí để sửa chữa nên người dân phải chịu số nước thất thoát đó.

Ở 3 thôn Đồng Lào, Trung Lào, Hạ Lào bù vào lượng thất thoát bà con phải trả gấp gần 4 lần của giá cả hiện hành (5.000 đồng/m3) trung bình là 19.000 đồng/m3. Tại thôn Xuân Canh, mỗi tháng người dân phải nộp từ 20-30 nghìn để bù lỗ nước bị rò rỉ.

Anh Nguyễn Văn Tú, thôn Đồng Lào, xã Thuận Hóa cho biết: “Gia đình chúng tôi tiết kiệm lắm mỗi tháng dùng hết 7m3, chỉ dùng nước để nấu ăn thôi chứ tắm rửa, giặt áo quần chúng tôi đều ra dùng nước sông hết. Nhưng không phải lúc nào cũng có nước để dùng, vài 3 hôm lại bị mất nước một lần. Không phải giá nước cao mà có nước thường xuyên để dùng, khi có nước gia đình phải đem tất cả dụng cụ ra để dự trữ”.

Để nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án cho miền núi nói chung và công trình nước nói riêng, Nhà nước phải xây dựng cơ chế đánh giá, giám sát hiệu quả các công trình đầu tư, hỗ trợ cho miền núi, trong đó gắn trách nhiệm cụ thể cho chính quyền địa phương trong việc quản lý, bảo vệ công trình. Có như vậy, mới tránh được việc người dân sống bên sông mà vẫn bị khát như hiện nay.

                                                                              Thanh Hoa