Bàn chuyện đầu ra cho nông sản

Cập nhật lúc 07:52, Thứ Hai, 23/07/2012 (GMT+7)

(QBĐT) - Những năm gần đây, điệp khúc “được mùa, rớt giá” đã trở thành nỗi ám ảnh của người nông dân. Biến động của thị trường thế giới, các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước bị doanh nghiệp nước ngoài ép giá, cung vượt quá cầu... là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc nông sản rớt giá. Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân mang tính khách quan nói trên, có một nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa, đó là tư duy kinh tế hạn chế của một bộ phận nông dân đã khiến cho câu chuyện đầu ra cho nông sản trở nên phức tạp hơn...

Câu chuyện cây sắn

Với những tiềm năng và lợi thế về đất đai, điều kiện thổ nhưỡng Bố Trạch được mệnh danh là “vương quốc” của cây sắn. Toàn tỉnh hiện có gần 3.000 ha sắn, thì Bố Trạch đã chiếm trên 2.850 ha. Có thể nói, sự ra đời của Nhà máy chế biến tinh bột sắn xuất khẩu Sông Dinh gần một thập kỷ qua đã mang lại những đổi thay to lớn đối với đời sống của người nông dân Bố Trạch. Kết thúc một vụ trồng sắn, nhiều hộ nông dân đã có của ăn của để.        Đấy là câu chuyện của những vụ mùa suôn sẻ. Không chỉ người nông dân vui mừng mà cả Nhà máy chế biến tinh bột sắn xuất khẩu Sông Dinh cũng vô cùng phấn khởi khi nhà máy đủ nguyên liệu để chạy hết công suất, sản phẩm sản xuất ra đến đâu đều được tiêu thụ hết đến đó. Thế nhưng thực tế không phải lúc nào cũng diễn ra “xuôi chèo mát mái” như thế. Câu chuyện cung – cầu giữa người trồng sắn và nhà máy đã trở nên phức tạp hơn khi giá sắn biến động thất thường.

Thu mua sắn nguyên liệu tại Nhà máy tinh bột sắn xuất khẩu sông Dinh
Thu mua sắn nguyên liệu tại Nhà máy tinh bột sắn xuất khẩu sông Dinh

Vụ sắn năm 2010, sắn được giá (trung bình 2.000 đến 2.400 đ/kg). Trước đó, các địa phương trồng sắn đã tiến hành ký kết hợp đồng với nhà máy với những điều khoản cam kết có lợi cho cả hai bên. Thế nhưng khi giá  sắn lên cao, một số tư thương tiến hành thu gom sắn nguyên liệu để bán ra các tỉnh lân cận như Hà Tĩnh, Quảng Trị, ngay lập tức, một bộ phận nông dân “bỏ quên” hợp đồng với nhà máy sắn và gom hết sắn nguyên liệu bán cho tư thương. Hành động này của các hộ nông dân trên địa bàn đã khiến cho Nhà máy chế biến tinh bột sắn xuất khẩu Sông Dinh lao đao vì thiếu nguyên liệu. “Dù chúng tôi đã cam kết sẽ thu mua theo giá thị trường nếu giá sắn biến động, nhưng để thu gom đủ nguyên liệu, chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn!”, ông Nguyễn Tâm Hưng, Phó Giám đốc nhà máy cho biết.     Rút kinh nghiệm mùa sắn năm 2010, năm 2011, nhà máy đã ký kết hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ hơn, chấp nhận việc tạm thời ngừng ký hợp đồng với những địa phương đã phá bỏ hợp đồng trong vụ sắn 2010, cho dù vùng nguyên liệu cũng vì thế giảm xuống. Và trong vụ sắn năm 2011, cây sắn rớt giá thê thảm, chỉ còn 900 – 1.000 đồng/kg. Lúc này nông dân lại ùn ùn chở sắn đến nhà máy để tiêu thụ. Vào thời điểm này, nhà máy chạy hết công suất, kể cả ngày lễ, tết... để tiêu thụ hết sắn cho người nông dân.

Trong quá trình thu mua nguyên liệu, cái lợi – hại của người nông dân trong việc tuân thủ hợp đồng đã thể hiện rõ. Đó là dù tư thương thu mua dưới 1.000 đồng/kg, thì nhà máy vẫn thu mua với giá 1.350 đồng/kg (là mức giá sàn khi ký kết hợp đồng). Và những hộ nông dân đã tiến hành ký và tuân thủ đúng hợp đồng, nhà máy luôn ưu tiên trong quá trình thu mua, tránh được việc sắn ứ đọng. Một trong những địa phương thực hiện tốt việc ký hợp đồng với nhà máy là xã Nam Trạch với gần 7.000 tấn trong vụ sắn 2011.

Đến chuyện cây ớt

Trong khi nhiều địa phương đã ổn định với cây sắn, thì một số địa phương khác vẫn loay hoay trong việc trồng cây gì, nuôi con gì... để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người nông dân. Dù chỉ là những bước đi thử nghiệm ban đầu, nhưng vài năm gần đây, cây ớt đã và đang tìm được chỗ đứng tại một số xã vùng cao ở Bố Trạch.

Một trong những địa phương đang thử nghiệm mô hình trồng ớt là Lâm Trạch. Dù số diện tích chưa lớn, nhưng qua quá trình thử nghiệm, mô hình đã mang lại thu nhập cao cho người nông dân với 6,5 triệu đồng/sào, gấp nhiều lần cây lúa, cây lạc và cả cây sắn. Để tạo đầu ra cho sản phẩm, xã đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với một doanh nghiệp ở Hải Dương. Đây có thể xem là một hướng đi mới với nhiều hứa hẹn mới...

Nông dân Hưng Trạch bội thu từ vụ ớt đông - xuân
Nông dân Hưng Trạch bội thu từ vụ ớt đông - xuân

Cùng với Lâm Trạch, Hưng Trạch là địa phương mạnh dạn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nhanh nhạy tìm đầu ra cho cây ớt. Ngay từ khi mới trồng thử nghiệm, giống ớt VN 27 S1 đã cho năng suất khá cao, 10 tấn/ha. Vụ đông -xuân năm 2011, Hưng Trạch mở rộng diện tích 21,74 ha. Với diện tích này, năm ngoái, sản lượng ớt đạt 217,4 tấn, mang lại thu nhập khoảng 2,6 tỷ đồng. Vụ đông - xuân năm nay, xã cũng đã ký kết hợp đồng với doanh nghiệp đầu mối, giá thu mua 11.000 đồng/kg (mức giá này đã bảo đảm người nông dân có lãi). Thế nhưng vào vụ thu hoạch năm nay, giá ớt tăng mạnh, đạt đến 25.000 đồng/kg. Mặc dù trước đó hợp đồng được ký với giá 11.000 đồng/kg, nhưng khi thị trường biến động theo chiều hướng tăng, doanh nghiệp vẫn thu mua theo giá thị trường. Thế nhưng lúc này, khá nhiều hộ nông dân vẫn “quay lưng” lại với doanh nghiệp để bán ớt cho tư thương. Trước thực tế đó, chính quyền xã Hưng Trạch đã phải tuyên truyền, vận động bà con giữ đúng cam kết với doanh nghiệp, nhưng nhiều hộ nông dân vẫn thờ ơ. Cao điểm, đã có đơn thư khiếu kiện gửi đến UBND huyện với nội dung chính quyền xã “ép” bà con phải bán ớt cho doanh nghiệp. Huyện Bố Trạch đã tiến hành kiểm tra những thông tin được phản ánh trong đơn thư và kết luận nội dung đơn thư là không đúng sự thật.

Bài học không chỉ dành cho người nông dân...

Từ việc người nông dân quay lưng lại với cây sắn, cây ớt khi nông sản được giá, có thể thấy rõ, với sự kém hiểu biết của mình, một bộ phận nông dân đã tự mình đánh mất cơ hội trong việc tạo đầu ra cho nông sản. Với những nguyên nhân khách quan và mang tính vĩ mô, chúng ta chỉ có thể can thiệp một phần để giúp người nông dân bảo đảm đầu ra cho nông sản. Nhưng một khi đã tìm được lối ra, nhưng chính tay người nông dân lại chắn lối ra ấy, thì những bài học và trách nhiệm không chỉ dành riêng cho người nông dân.

Chính quyền xã Hưng Trạch đã rút kinh nghiệm trong vụ ớt vừa qua. “Vụ ớt tới, chúng tôi tiến hành ký hợp đồng tay ba (doanh nghiệp – chính quyền địa phương – hộ trồng ớt) với những điều khoản chặt chẽ hơn, bảo đảm cả doanh nghiệp và người nông dân đều có lợi!”, ông Lê Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Trạch cho biết. Trước đó, Nhà máy chế biến tinh bột sắn xuất khẩu Sông Dinh cũng đã tiến hành ký hợp đồng theo phương thức này để giảm bớt thiệt hại trong trường hợp giá sắn xuống thấp và bảo đảm nguồn nguyên liệu khi giá sắn biến động theo chiều hướng tăng.

Và có lẽ không chỉ riêng cây sắn, cây ớt, mà nhiều loại nông sản khác như lúa, lạc, tiêu... cũng đã và đang gặp những khó khăn tương tự. Để các loại nông sản trong tỉnh không lặp lại câu chuyện của cây sắn, cây ớt trên đồng đất Bố Trạch, thì cùng với sự nhanh nhạy của các địa phương, cần có sự định hướng, cộng đồng trách nhiệm của cấp huyện, cấp tỉnh trong quá trình này, tránh việc để người nông dân và chính quyền địa phương “đơn thương độc mã” trong việc tìm đầu ra cho nông sản. Hơn lúc nào hết, sự phối hợp “bốn nhà” (nhà nông – nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp) sẽ góp phần tạo đầu ra ổn định cho nông sản và nâng cao đời sống người nông dân.

Câu chuyện đầu ra cho nông sản đã “nóng” từ hàng thập kỷ nay với nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người nông dân trong việc sản xuất và tiêu thụ. Tuy nhiên qua mười năm triển khai, việc thực hiện quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hình thức hợp đồng, vẫn bị đánh giá là hiệu quả chưa cao. Với các điều khoản có lợi cho doanh nghiệp và người nông dân như đất đai, đầu tư, tín dụng, chuyển giao kỹ thuật công nghệ, thị trường..., nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp và người nông dân vẫn tự mình tìm lối ra và ít được hưởng các chính sách ưu đãi.

                                                                                     Ngọc Mai

,
.
.
.