(QBĐT) - Tỉnh ta hiện có 15 xã với 4.271 hộ dân tộc thiểu số, 21.581 nhân khẩu. Trong đó có 3.864 hộ dân tộc sống tập trung với 19.893 nhân khẩu. Trong những năm qua thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định 134 của Chính phủ, hầu hết bà con đã có đất ở, đủ đất sản xuất. Tuy nhiên, do việc quản lý đất đai lỏng lẻo, chuyển nhượng tràn lan, nên đến nay nhiều nơi đồng bào dân tộc thiếu đất sản xuất.
Kết quả bước đầu thực hiện giao đất ở, đất sản xuất
Qua 7 năm thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20-7-2004 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, các địa phương trong tỉnh đã tích cực thực hiện giao đất ở, đất sản xuất cho các hộ dân tộc thiểu số.
Đến nay, đã giao đất ở cho 3.311 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (trong đó có nhiều hộ 2-3 thế hệ chưa tách hộ), diện tích giao 201 ha (bình quân 600m2/hộ); giao đất sản xuất cho 2.601 hộ, diện tích 2.187,2 ha (bình quân 0,84ha/hộ) và giao đất lâm nghiệp cho 2.533 hộ, diện tích 5.520,2ha (bình quân 2,2ha/hộ).
Như vậy, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp bình quân đã giao cho các hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh lớn hơn mức quy định tại Quyết định 134 của Chính phủ.
![]() |
| Nhiều diện tích đất được giao ở xã Trường Sơn (Quảng Ninh) sử dụng kém hiệu quả. |
Trong những năm qua, tỉnh đã tích cực chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quy hoạch nông thôn mới; tỉnh ban hành các văn bản quy định hạn mức đất ở, đất trống đồi núi trọc để giao đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp (đất ở đối với khu vực miền núi 400 m2/hộ, đất trồng cây hàng năm không quá 2ha/hộ, đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng không quá 30ha/hộ). Qua đó, đã tạo quỹ đất ở, đất sản xuất để giao cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số ổn định sản xuất, nâng cao đời sống.
Năm 2009 tỉnh đã hoàn thành công tác rà soát đất lâm nghiệp của các nông, lâm trường theo theo Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22-9-2004 và Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 3-12-2004 của Chính phủ. Theo đó, các nông, lâm trường đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất để ổn định sản xuất, phát huy hiệu quả kinh tế; đồng thời thu hồi một số diện tích ất của các nông lâm trường để giao cho các địa phương quản lý và tổ chức giao cho các hộ dân gần rừng có đất sản xuất trong đó ưu tiên các hộ đồng bào dân tộc thiểu số cho xã Ngân Thuỷ 347,3 ha, xã Kim Thuỷ 4.591,7 ha, xã Lâm Thuỷ 1.112,2 ha, xã Trường Sơn 378,2 ha, xã Sơn Trạch 287,2 ha.
Quản lý lỏng lẻo và sử dụng kém hiệu quả
Đó là thực trạng xảy ra phổ biến hiện nay ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mới đây chúng tôi có dịp cùng đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và PTNT đến thăm một số bản đồng bào dân tộc ở huyện Lệ Thuỷ nhận thấy đất đai bà con trồng cây thưa thớt, kém hiệu quả, thậm chí còn để hoang hoá khá nhiều.
Qua tìm hiểu sơ bộ chúng tôi được biết vừa qua trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được giao đất lâm nghiệp nhưng chuyển nhượng trao tay trái pháp luật cho các hộ gia đình khác, diện tích 65 ha. Cụ thê, tại xã Ngân Thuỷ, Lệ Thuỷ có 19 hộ đồng bào Vân Kiều đã được xét giao 56 ha đất lâm nghiệp để thực hiện dự án trồng rừng Bang Thanh Sơn theo Quyết định số 2448/QĐ-UBND ngày 13-7-2007 của UBND huyện Lệ Thuỷ, nhưng sau đó họ mang bán cho bà Nguyễn Thị Lựu ở thị trấn Lệ Ninh sử dụng. Hộ ông Hồ Miệt hiện nay thiếu đất sản xuất, nhưng trước đó ông đã bán 2,6 ha đất được giao cho ông Phạm Công Tuấn ở thị trấn Lệ Ninh sử dụng.
Tại xã Kim Thuỷ có hộ ông Hồ Sơn chuyển nhượng cho bà Lê Thị Mính diện tích 0,8ha, hộ ông Hoàng Ngọc chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thí 1ha, hộ ông Hồ Mữ chuyển nhượng cho hộ ông Hoàng Văn Lĩnh 2,1ha, hộ ông Hoàng Văn Hùng chuyển nhượng cho ông Hoàng Văn Giáp 1,1ha, hộ ông Hồ Vân chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Vang 1,3ha...
Sở Tài nguyên và Môi trường đã yêu cầu chính quyền địa phương thu hồi để trả lại cho đồng bào dân tộc thiểu số và kiểm điểm các tập thể, cá nhân có liên quan theo quy định.
Nhiều hộ còn thiếu đất ở, đất sản xuất
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết hiện tại có hàng trăm hộ đồng bào dân tộc chưa có đất ở và đất sản xuất. Nguyên nhân là trong quá trình giao đất bà con không có nhu cầu xin giao đất để ở và sản xuất. Lý do là tập quán của bà con dân tộc thiểu số trong đó có nhiều hộ 2-3 thế hệ chưa tách hộ, nên khi giao chỉ tính tiêu chuẩn cho một hộ.
Vừa qua, trên địa bàn tỉnh có một số hộ đồng bào dân tộc thiểu số có đề nghị giao thêm đất ở, đất sản xuất để ổn định đời sống, cụ thể có khoảng 1.670 hộ có nhu cầu giao thêm 5.174,2 ha đất sản xuất và 960 hộ có nhu cầu giao thêm 38,9 ha đất ở.
Các trường hợp đề nghị giao thêm đất chủ yếu là do tách hộ, mặt khác các hộ đã thấy giá trị kinh tế từ việc trồng rừng của các nông, lâm trường nên đề nghị giao đất lâm nghiệp để phát triển sản xuất.
![]() |
| Khu tái định cư đồng bào dân tộc trên tuyến đường Hồ Chí Minh, Lệ Thuỷ. |
Hiện tại có nhiều xã phản ánh đồng bào dân tộc còn thiếu đất sản xuất và đề nghị giao thêm đất cho đồng bào như: xã Ngân Thuỷ, Lâm Thuỷ, Kim Thuỷ (Lệ Thuỷ), xã Trường Sơn, Trường Xuân (Quảng Ninh), xã Sơn Trạch (Bố Trạch). Cụ thể, xã Lâm Thuỷ đề nghị thu hồi khoảng 430 ha của Công ty TNHH MTV LCN Long Đại để bố trí đất ở 40 ha và đất sản xuất 390 ha cho các bản Bạch Đàn, Tân Ly, Eo Bù – Chút Mút.
Xã Ngân Thuỷ đề nghị thu hồi một phần diện tích đất lâm nghiệp tại các tiểu khu 446, 447, 425, 424, 403B của Công ty TNHH MTV LCN Long Đại, diện tích 200 ha, trước mắt thu hồi tại tiểu khu 447 diện tích 60 ha (hiện nay công ty đã khai thác keo) để giao cho các hộ đồng bào dân tộc bản Khe Giữa sản xuất, và 50ha tại Km 19 dọc theo tỉnh lộ 10 để bố trí tái định cư cho 25 hộ bản Đá Còi.
Xã Kim Thuỷ đề nghị thu hồi 33 ha tại tiểu khu 498, 486 để bố trí tái định cư bản Mít; thu hồi 2 ha tại tiểu khu 441 (Lâm trường Kiến Giang) đoạn sát đường HCM để quy hoạch đất ở cho 20 hộ dân bản Khe Khế; tại tiểu khu 460 (Lâm trường Kiến Giang) diện tích 150 ha để di giãn dân cho 2 bản Cây Bông, Cồn Cùng; tiểu khu 442 diện tích 155ha, tiểu khu 441 diện tích 30ha để bố trí đất ở, đất sản xuất cho bản khe Khế, bản Bang.
Xã Trường Sơn đề nghị thu hồi khoảng 3.145 ha đất rừng phòng hộ (trạng thái Ib, Ic) của Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại, 650 ha đất rừng trồng của Công ty TNHH MTV LCN Long Đại để giao cho dân sản xuất, hiện nay xã đang phối hợp với UBND huyện, công ty để khảo sát đề xuất cụ thể.
Xã Trường Xuân đề nghị thu hồi khoảng 30 ha để giao thêm đất sản xuất cho các hộ tái định cư hồ Rào Đá; thu hồi của Công ty Hồng Đức khoảng 12 ha để giao cho 12 hộ đồng bào dân tộc tại bản Nà Lâm ổn định sản xuất.
Xã Sơn Trạch đề nghị thu hồi một phần diện tích đất lâm nghiệp khu vực bản Rào Con khoảng 150ha của Công ty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình để giao cho 37 hộ bản Rào Con ổn định sản xuất....
Tăng cường quản lý gắn với việc sử dụng đất hiệu quả
Việc quản lý đất đai đang là vấn đề khó khăn, nhất là đối với chính quyền các xã vùng đồng bào dân tộc. Nhiều hộ bà con dân tộc không có đất sản xuất là do được cấp đất, sau đó mang đi bán lấy tiền chi dùng vào việc khác. Tình trạng thiếu vốn để đầu tư sản xuất (vốn đầu tư trồng 1ha cây lâm nghiệp từ 15-20 triệu đồng, cây cao su trên 50 triệu đồng) và trình độ canh tác thấp nên hầu hết bà con sử dụng đất được giao kém hiệu quả.
Tuy nhiên không thể để người dân thiếu đất sản xuất. Chúng tôi đề nghị UBND các huyện chỉ đạo UBND xã rà soát, xác định đúng đối tượng thiếu đất sản xuất, thực sự có nhu cầu và có khả năng đầu tư sản xuất để giao đất cho dân. Cần tránh tình trạng buông lỏng quản lý của chính quyền huyện, xã như vừa qua, khắc phục tình trạng sau khi giao đất vẫn bỏ hoang không sản xuất, chuyển nhượng trái pháp luật.
Hiện tại để có quỹ đất giao cho bà con dân tộc, UBND các huyện cần phối hợp với Công ty TNHH MTV LCN Long Đại, Công ty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình đề khảo sát thực địa thống nhất các khu vực, diện tích đề nghị thu hồi để giao cho dân sản xuất một cách hợp lý.
Đối với những khu vực các công ty đã trồng cây lâm nghiệp, khi thu hồi UBND các huyện có trách nhiệm lập phương án bồi thường tài sản trên đất cho công ty theo quy định. Một số khu vực sau khi đã khai thác xong sản phẩm, gần khu dân cư, thuận tiện cho sản xuất của nhân dân đề nghị UBND huyện bàn bạc thống nhất với các công ty để lập quy hoạch, bố trí đất sản xuất cho nhân dân, bảo đảm ổn định đời sống.
Vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc là vấn đề lớn, thực hiện lâu dài, mong rằng chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở cần tăng cường công tác quản lý, các tổ chức hội, đoàn thể có biện pháp giúp đỡ người dân sử dụng có hiệu quả.
Trọng Thái

