Gương sáng thương binh
(QBĐT) - Trở về với cuộc sống đời thường khi một phần xương máu đã nằm lại nơi chiến trường, họ vẫn chiến thắng hoàn cảnh, chống chọi với bệnh tật và đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình cho gia đình, xã hội.
Gan dạ, trung kiên thời trận mạc
Tháng 12 năm 1975, anh thanh niên Phạm Đức Hiền lúc đó vừa tròn 19 tuổi hăng hái lên đường nhập ngũ. Đầu năm 1976, anh Hiền được điều động lên Tây Nguyên cho đến tháng 1 năm 1979, tình nguyện tham gia chiến đấu trên đất bạn Campuchia, thực hiện nhiệm vụ truy bắt những tàn quân của chế độ diệt chủng Polpot-Ieng Sari.
“Suốt thời gian dài, chúng tôi phải hành quân xuyên qua những cánh rừng sâu, ngày đánh, đêm đào công sự. Thời đó, từ sỹ quan cho đến chiến sỹ, hầu như ai cũng bị sốt rét rừng. Tuy vậy, khi có lệnh hành quân là mọi người đều phải gắng gượng, dìu dắt nhau lên đường, trừ những anh em nào bị bệnh quá nặng thì mới chuyển về hậu cứ điều trị rồi lại tham gia chiến đấu”. Đó là khoảng thời gian cực kỳ khó khăn và gian khổ.
Bộ đội Việt Nam ở Campuchia không có lương, chỉ được trợ cấp sinh hoạt phí (phụ cấp), thiếu thốn trăm bề nhưng không vì thế mà ông Hiền và đồng đội nhụt ý chí, ngược lại luôn đầy ắp quyết tâm trong suốt quá trình thực hiện nghĩa vụ quốc tế, quyết chiến đấu cho sự hồi sinh của nhân dân Campuchia anh em.
Trong những năm tháng chiến đấu trên đất bạn Campuchia, chiến sỹ trẻ Phạm Đức Hiền không nhớ hết mình đã từng hành quân qua những vùng đất nào, tham gia bao nhiêu trận đánh nhưng có một điều ông không bao giờ quên được đó là những giây phút vĩnh biệt đồng đội trong nước mắt. “Có khi anh em mới ngồi tâm tình với nhau buổi tối thì sáng đã hy sinh. Có khi đồng đội ngã xuống chỉ cách mình có vài thước nhưng cũng không cứu kịp”, ông Hiền nghẹn ngào. Tháng 12 năm 1982, ông Hiền bị thương nặng, một phần cơ thể ông đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường ác liệt.
Cũng là một trong những chiến sỹ trẻ tình nguyện chiến đấu quên mình trên chiến trường Campuchia khốc liệt, cựu chiến binh Nguyễn Cao Đỉnh (thôn Long Đại, xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh) ngày ấy là chiến sỹ trẻ thuộc Trung đoàn 95, Sư đoàn 325, Quân đoàn II. Nhập ngũ tháng 5-1978 thì đến đầu năm 1979, ông Đỉnh cùng nhiều đồng đội khác lên đường sang đất bạn Campuchia chiến đấu.
![]() |
| CCB Phạm Đức Hiền là tấm gương sáng về điển hình "thương binh tàn nhưng không phế". |
Trong thời kỳ đầu, nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, tiêu diệt các căn cứ, các tổ chức phản động, giữ vững chính quyền cách mạng được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ta trên chiến trường Campuchia. Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia mở nhiều đợt truy quét tàn quân địch, dồn chúng về biên giới phía Tây Bắc Campuchia. Sư đoàn 325 và một số đơn vị binh chủng được lệnh truy quét địch ở khu vực tỉnh Campốt.
Ngày 2 tháng 2 năm 1979, Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 của ông Đỉnh sử dụng một tiểu đoàn luồn sâu vào điểm cao 177 (Đông Bắc Trốpsala); đồng thời sử dụng lực lượng còn lại bao vây chặt quân địch co cụm ở Trốpsala. Sau 4 ngày chiến đấu, Trung đoàn 95 diệt và bắt nhiều tên địch, làm chủ Trốpsala. Cũng trong thời điểm ác liệt đó, ông Đỉnh bị thương. Thế nhưng, người chiến sỹ trung kiên ấy vẫn bất chấp sự an nguy của bản thân, tiếp tục chiến đấu đến cùng. Và sau hơn 1 tuần phối hợp chiến đấu cùng các đơn vị bạn, ông Đỉnh cùng các đồng đội đã hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao.
“Xưa thắng giặc, nay thắng nghèo”
Về xã Cảnh Dương, chúng tôi không mấy khó khăn để tìm được nhà CCB Phạm Đức Hiền, thương binh cụt một chân, hạng 2/4. Chính những mất mát vì chiến tranh và nghị lực vượt lên hoàn cảnh đã khiến ông được nhiều người biết đến và trở thành niềm tự hào của địa phương. Năm 1986, ông Hiền cởi áo lính về quê hương nhưng vì không có ruộng đất, nghề nghiệp nên cuộc sống của gia đình ông rất khó khăn, chật vật. Mặc cảm vì mình không còn lành lặn cộng với sự phản đối từ phía gia đình người yêu nên ông đành ngậm ngùi nói lời chia tay với mối tình đẹp trong nhiều năm.
Tuy nhiên, người con gái đó đã bất chấp tất cả để đến với ông. Họ đã cùng nhau vượt qua mọi sóng gió, trở lực để kết duyên cùng nhau. Và rồi lần lượt 4 đứa con cả trai lẫn gái ra đời trong niềm vui xen lẫn lo âu của hai vợ chồng. Hoàn cảnh gia đình khó khăn lại thêm ông Hiền mất sức, không làm được việc nặng nhọc nên cuộc sống của gia đình ông luôn đối mặt với nỗi lo cơm áo từng ngày. Ở cái làng biển Cảnh Dương ấy, người dân sống chủ yếu dựa vào biển.
Phần đông thanh niên trai tráng của làng đều đi biển. Không thể lênh đênh trên biển như các thanh niên khác, Phạm Đức Hiền buộc phải vay tiền, xoay xở buôn bán đủ thứ hàng hóa như đường, sắn, gạo... nhưng cuộc sống vẫn chưa hết chật vật. Với bản lĩnh kiên cường của người lính, CCB Phạm Đức Hiền nuôi quyết tâm thắng “giặc đói, giặc nghèo”. Có chút ít vốn trong tay, ông vay mượn thêm bạn bè đầu tư trang trại chăn nuôi lợn, gà và ngan.
Ban đầu, ông chỉ nuôi một ít lợn và gà, sau đó thấy có lợi nhuận, ông tiếp tục đầu tư tăng số lượng. Đến nay, với gần 40 con lợn và đàn gà, ngan gần trăm con, gia đình ông thu lãi ròng 40-50 triệu đồng/năm. Cộng với khoản thu nhập từ buôn cá của vợ, gia đình ông Hiền không những thoát được nghèo mà còn có “của ăn của để”, nuôi dạy con cái ăn học đến nơi đến chốn. Sau những năm tháng quên mình ngoài chiến trường và vật lộn với đói nghèo, giờ đây, niềm vui của ông Hiền là được tiếp tục lao động và vui vầy bên con cháu.
“Quá khứ vinh quang chỉ được trân trọng khi hiện tại vẫn tiếp tục làm đẹp cho đời”, câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng được CCB Nguyễn Cao Đỉnh, thương binh hạng 4/4 khắc cốt, ghi tâm. Cũng như nhiều chàng trai cởi áo lính trở về quê hương, cuộc sống trước mắt Nguyễn Cao Đỉnh chồng chất muôn vàn khó khăn. Là nông dân nhưng không có ruộng, ông Đỉnh phải đi làm công cho người khác, kiếm tiền trang trải cuộc sống. “Giàu hay nghèo là do ý chí và nghị lực của con người mà nên”, luôn tâm niệm như thế nên ông không bao giờ từ bỏ quyết tâm vượt khó làm giàu.
Và cơ hội đến với người CCB ấy khi năm 1990, tỉnh có chủ trương xây dựng kinh tế vùng đồi. Không để lỡ thời cơ, ông Đỉnh đã mạnh dạn xin 2,5 ha đất, đưa gia đình, vợ con lên khai hoang ở vùng kinh tế mới. Trong tay không có vốn, ông vay mượn bạn bè, người thân thuê người lên rà phá bom mìn, rồi san lấp, cải tạo đất, đầu tư lấy ngắn nuôi dài, trồng khoai, sắn.
Sau khi tích cóp được chút vốn, ông lại đào ao thả cá, trồng thêm rau, dưa các loại kết hợp nuôi thêm gà, vịt, ong. Hiện tại, với cơ ngơi 0,2 ha ao thả cá, 1ha cây ngắn ngày cùng vườn cây ăn quả, cây lấy gỗ và cho thu nhập 60-70 triệu đồng/năm, ông Đỉnh trở thành tấm gương sáng về nghị lực vượt lên hoàn cảnh, vinh dự được tham dự Hội nghị biểu dương người có công tiêu biểu Quảng Bình năm 2012.
Không chỉ làm kinh tế giỏi, CCB Nguyễn Cao Đỉnh còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương, thường xuyên quan tâm, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, xứng đáng là tấm gương sáng cho mọi người noi theo.
Đ. V
