Nơi thời gian dừng lại - Bài 1: Bái vọng Đồng Lộc
(QBĐT) - Một ngày trung tuần tháng 7, tôi cùng những bạn đồng nghiệp ở báo Hà Tĩnh khởi đầu một hành trình dài từ ngã ba Đồng Lộc, đến đường 20- Quyết Thắng, ghé nghĩa trang TNXP Thọ Lộc, thắp nhang tại nghĩa trang TNXP xã Vạn Ninh; bám đường Hồ Chí Minh viếng nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, nghĩa trang Quốc gia đường 9… rồi ngược lên phía tây tỉnh Quảng Trị, gặp Khe Sanh một thời lửa đạn. Những nơi chúng tôi nghiêng mình thắp nén nhang tri ân, thời gian ngỡ như dừng lại, quá khứ- hiện tại- tương lai quyện hòa làm một.
Khi chúng tôi đến Đồng Lộc, chẳng còn mấy thời gian nữa lễ kỷ niệm 45 năm ngày chiến thắng ngã ba Đồng Lộc sẽ được tỉnh Hà Tĩnh tổ chức, quy mô rất hoành tráng với chủ đề “Đồng Lộc- Khúc tráng ca bất tử”. Chiều muộn, nghe tiếng chuông ngân dài khắp núi rừng, bâng khuâng tự hỏi: mới đó mà đã bốn mươi lăm năm.
Với tôi và những người con đất Việt, Đồng Lộc không phải là một địa danh xa lạ gì. Tôi đã nhiều lần đến ngã ba Đồng Lộc, thắp từng nén nhang viếng hương hồn mười liệt sỹ thanh niên xung phong (TNXP) hy sinh trên mảnh đất này vào một chiều tháng 7 năm 1968. Mỗi lần đến, lạ lắm! Cảm xúc cứ rưng rưng, nghèn nghẹn, không lần nào giống lần nào.
Quang Linh và Thu Hoài, hai phóng viên của báo Hà Tĩnh cùng tôi thực hiện chuyến đi dọc Trường Sơn, khởi đầu từ ngã ba Đồng Lộc, theo đường 15A năm xưa, đường Hồ Chí Minh bây giờ vào Quảng Bình và điểm kết thúc ở tại Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị.
![]() |
| Cụm tượng đài và tháp chuông báo ân tại ngã ba Đồng Lộc. |
Ngã ba này nằm trên tuyến đường 15A thuộc xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc. Ngã ba Đồng Lộc có một vị trí rất quan trọng, là tuyến chi viện của hậu phương miền Bắc đến đất lửa Quảng Bình sau đó tỏa đi khắp chiến trường miền Nam. Thử tưởng tượng nhé! Hai bên đường là vách núi cao, lối đi giữa hẹp lại tựa thắt nút cổ chai. Bom Mỹ đánh vào vách núi bên nào, nút cổ chai cũng đều bị tắc nghẽn. Xác định rõ tầm chiến lược vô cùng quan trọng của ngã ba Đồng Lộc, nên bằng mọi cách chúng ta phải bảo đảm cho tuyến đường luôn thông suốt, để các đoàn xe cơ giới đưa hàng hóa, vũ khí, bộ đội ra tiền tuyến.
Về phía địch, chúng tìm mọi cách băm nát nút cổ chai này nhằm ngăn chặn tuyến chi viện của ta. Và ngã ba Đồng Lộc trở thành nơi quyết chiến, quyết tử giữa bộ đội, TNXP với các loại máy bay, phương tiện chiến tranh hiện đại của đế quốc Mỹ.
Đơn cử, từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1968, trong 240 ngày đêm, máy bay địch trút xuống ngã ba Đồng Lộc 48.600 quả bom các loại. Bom đạn làm cho mặt đất bị biến dạng, hố bom chồng lên hố bom. Giai đoạn 1967- 1968, tiểu đội 4 TNXP của đại đội 552 chủ yếu là nữ, tuổi đời mười tám đôi mươi được cấp trên điều về tăng cường cho ngã ba Đồng Lộc. Những cô gái lạc quan, yêu đời nhưng không kém phần kiên cường, dũng cảm ấy, mặc mưa bom, bão đạn của quân thù, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, bảo đảm tuyến đường luôn thông suốt.
Buổi chiều ngày 24-7-1968, một buổi chiều định mệnh, vào lúc 5 giờ, tiểu đội 4 gồm mười cô gái trẻ, nhỏ nhất chỉ mới 17, nhiều nhất tròn tuổi 22 gồm: tiểu đội trưởng Võ Thị Tần, tiểu đội phó Hồ Thị Cúc cùng các đội viên Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Dương Thị Xuân, Trần Thị Rạng, Hà Thị Xanh, Nguyễn Thị Nhỏ, Võ Thị Hạ và Trần Thị Hường nhận nhiệm vụ ra mặt đường.
Khi tiểu đội đang làm việc khẩn trương thì máy bay địch đến, các cô gái nằm rạp xuống đất. Hết tiếng máy bay, họ tiếp tục công việc. Ai ngờ... máy bay địch quay lại... tiếng bom rền khắp ngã ba, đất đá, khói bom trùm lên đội hình tiểu đội 4... Dứt tiếng bom, đồng đội ào ra, chỉ thấy chi chít hố bom, những chiếc cuốc, vài chiếc xẻng vung vãi... mười cô gái, không còn lại một ai.
Giữa bãng lãng của đất trời, nơi cõi thiêng ngã ba Đồng Lộc, bên nghĩa trang nơi mười cô gái nằm, tôi giật mình khi nghe giọng thơ của anh Đào Anh Tuân, Phó Trưởng ban quản lý Khu di tích ngã ba Đồng Lộc cất lên, tiếng anh không lẫn đâu được: “Cúc ơi!..”. Nghe cay cay nơi hai khóe mắt, tự dối lòng, chắc khói hương bay vào. Mà không phải, quanh tôi nhiều và rất nhiều người bật khóc thành tiếng. Lời thơ anh ngâm, dội vào lòng người, thổn thức, đồng vọng... kể lại câu chuyện của 45 năm trước, nơi ngã ba này.
Chuyện đồng đội tìm thấy chín người rồi, “điểm danh” lại vắng tiểu đội phó Hồ Thị Cúc. Suốt đêm 24, ngày 25, huy động người, phương tiện đào tìm nhưng chẳng thấy. Các cụ cao niên bảo: “Hay làm cái lễ gọi hồn Cúc, xem o nớ đang ở mô !”. Đồng đội nghe theo, chuẩn bị một bát cơm úp, quả trứng luộc, đôi đũa tre cắm giữa bát cơm. Thường lời gọi hồn đều bằng những ngôn từ soạn sẵn, nhưng đồng đội đi tìm Cúc, lại gọi Cúc bằng thơ.
![]() |
| Thắp hương trên phần mộ mười cô gái hy sinh tại ngã ba Đồng Lộc. |
Bài thơ do kỹ sư Nguyễn Thanh Bính, phụ trách giao thông tại ngã ba Đồng Lộc, người cùng quê với chị Cúc viết. Rồi chính anh đứng trước bát cơm úp, quả trứng luộc, trước hố bom chồng lên hố bom, trước nghi ngút khói hương, đọc trong nước mắt... gọi Cúc về:
“Tiểu đội đã xếp một hàng ngang
Cúc ơi em ở đâu không về tập hợp?
Chín bạn đã quây quần đủ hết
Nhỏ- Xuân- Hà- Hường- Hợi- Rạng- Xuân- Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em
(Chín bỏ làm mười răng được!)
Bọn anh đã bới tìm vết cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh
không cần
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng
Cúc ơi! Em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm
Da em xanh
Áo em thì mỏng!
Cúc ơi! Em ở đâu?
Về với bọn anh tắm nước sông
Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp năm em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn
Ở đâu hỡi Cúc
Đồng đội tìm em
Đũa găm, cơm úp
Gọi em
Gào em
Khan cổ cả rồi
Cúc ơi!”
Sâu trong lòng đất, Cúc đã "nghe thấu". Nên khi lời thơ gọi hồn vừa dứt, mọi người tìm thấy nơi Cúc nằm, căn hầm cá nhân cách hầm chữ A một quãng ngắn. Khi Cúc nhảy xuống hầm trú ẩn, nón vẫn đội trên đầu, tay cầm chắc cán xẻng. Đưa Cúc lên, ngắm hai bàn tay Cúc, không ai cầm được nước mắt, mười ngón tay sưng tấy, tím bầm. Ừ! Khi bom vùi, Cúc đang sống, thân thể vẹn nguyên, Cúc dùng tay cào bới đất để thoát ra. Nhưng đất sâu quá, không thể nào được...
Về lại ngã ba Đồng Lộc lần này, Đào Anh Tuân, Phó Trưởng ban quản lý Khu di tích cho tôi biết thêm những chi tiết về tháp chuông tri ân được khánh thành vào đầu năm 2011. Tháp chuông cao 7 tầng (36,6 mét), quả chuông nặng 5,7 tấn, do nghệ nhân Nguyễn Văn Ứng, cơ sở đúc đồng Hoa Mai- Ngũ Xá thực hiện. Tổng giá trị công trình hơn 42 tỷ đồng. Trên bề mặt chuông khắc bài “Minh chuông” viết theo thể phú của giáo sư Vũ Khiêu.
Thể theo nguyện vọng của chúng tôi, trước khi tiếp tục hành trình vào phía nam, Đào Anh Tuân đưa chúng tôi lên tháp chuông. Một hồi chuông ngân dài, bái vọng hương hồn các anh hùng liệt sỹ, anh linh tráng liệt của mười cô gái hy sinh tại ngã ba Đồng Lộc năm nào.
“Chuông vang lên. Từ trên đỉnh Trường Sơn/ Tại ngã ba Đồng Lộc/ Đây mười cô thiếu nữ: vươn cao nghĩa cả non sông/ Giữa ngàn vạn anh hùng: trải rộng hồn thiêng Tổ quốc/Dạt dào sức trẻ, nắng ban mai chói sáng nụ cười/ Phơi phới tuổi xanh, gió đồng nội tung bay mái tóc... Ngày hôm nay. Một tượng đài cao vút hướng thanh thiên/ Mười ngôi mộ sáng trưng như bạch ngọc/ Tiếng chuông rung khí phách Trường Sơn/ Tiếng chuông dội tinh thần Đồng Lộc/ Ngàn thu thức tỉnh đạo làm người/ Muôn dặm bừng soi gương vị nước” (Trích bài “Minh chuông” của Giáo sư Vũ Khiêu).
Ngô Thanh Long
Bài 2: Kéo thời gian ở lại

