Một khu nghĩa trang dễ bị lãng quên!

Cập nhật lúc 09:12, Thứ Năm, 17/05/2012 (GMT+7)

(QBĐT) - Những cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève đã ở lại mảnh đất Quảng Bình sinh sống và chiến đấu với ước nguyện góp sức cùng đồng bào cả nước thu non sông về một mối. Thế nhưng ngày thống nhất đất nước họ lại không có mặt bởi bom đạn chiến tranh, già yếu, bệnh tật... Họ phải nằm lại trên mảnh đất miền Trung ruột thịt. Và nơi đó trên vùng gò đồi của xã Lộc Ninh (thành phố Đồng Hới), 80 ngôi mộ nằm trong khu nghĩa trang miền Nam ít được chăm sóc, hương khói và gần như bị lãng quên.

Anh Trịnh Quang Phúc và ông Lê Kim Dỹ đang tìm tài liệu về những người miền Nam tập kết. Ảnh: M.V
Anh Trịnh Quang Phúc và ông Lê Kim Dỹ đang tìm tài liệu về những người miền Nam tập kết. Ảnh: M.V

Rất tình cờ tôi gặp anh Trịnh Quang Phúc- là phóng viên báo Thanh niên thường trú ở thành phố Quy Nhơn (Bình Định), trong chuyến ra Quảng Bình tìm mộ ông nội. Ông nội của anh tên là Trịnh Thọ (mất năm 1972), nguyên cửa hàng trưởng Cửa hàng lương thực Hiền Ninh, là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève năm 1954. Không riêng gì ông Trịnh Thọ, thời đó rất nhiều cán bộ, chiến sĩ kháng chiến của Việt Minh và gia đình tập kết ra Bắc chờ ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên phải đến 20 năm sau điều đó mới trở thành hiện thực, khi chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam được giải phóng, non sông thu về một mối.

Trở lại câu chuyện đi tìm mộ của anh Phúc, tuy có rất ít thông tin nhưng với quyết tâm và muốn tìm đến nơi ông nội mình đã công tác và nằm lại, anh đã lên đường ra Quảng Bình. Thông qua nhiều mối quan hệ cùng với sự trợ giúp của bạn bè và những người công tác cùng thời với ông Trịnh Thọ, anh đã tìm đến khu nghĩa trang miền Nam ở thôn 6, xã Lộc Ninh với hy vọng tìm được mộ chí của ông nội. Nhưng tâm nguyện của anh Phúc bất thành do khu nghĩa trang này không được chăm sóc thường xuyên nên nhiều nấm mộ bị thất lạc, có mộ không còn bia hoặc bia bị gãy... rất khó xác định. Mặc dù đã vận dụng nhiều biện pháp từ khoa học đến tâm linh nhưng anh vẫn không tìm được mộ ông.

Trong những ngày cùng anh Trịnh Quang Phúc đi tìm mộ ông nội anh, chúng tôi đã gặp và trò chuyện với ông Lê Kim Dỹ, ở thôn 4, xã Lộc Ninh (77 tuổi, quê ở Triệu Phong, Quảng Trị), là cán bộ tập kết ra Bắc năm 1954. Đã qua thời trận mạc trong đội hình của Sư đoàn 325 nên ông thấu hiểu và cảm thông với những hoàn cảnh mất mát, chia ly của một thời chiến tranh khốc liệt.

Khu nghĩa trang miền Nam ở xã Lộc Ninh (TP Đồng Hới). Ảnh: M.V
Khu nghĩa trang miền Nam ở xã Lộc Ninh (TP Đồng Hới). Ảnh: M.V

Ông cho biết, lúc đó, toàn nghĩa trang miền Nam có 92 ngôi mộ (hiện còn 80 ngôi mộ), phần lớn là cán bộ có quê quán ở Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Mỹ Tho, Trà Vinh, Sa Đéc... “Sau ngày đóng tuyến, những cán bộ này ở lại sinh sống và công tác ở Quảng Bình, rồi vì bom đạn của chiến tranh, già yếu, tật bệnh họ đã mãi mãi nằm lại với mảnh đất đầy gió Lào và cát trắng này. Hàng năm, Hội đồng hương miền Nam đều đóng góp tiền bạc, công sức để chăm sóc phần mộ, hương khói cho những người đã nằm xuống. Nhưng chúng tôi ngày càng già yếu, một mai này sợ không còn ai gìn giữ khu nghĩa trang miền Nam nữa, đặc biệt là những ngôi mộ bia bị mờ không rõ họ tên, quê quán, địa chỉ ở đâu nên rất cần sự trợ giúp của chính quyền các cấp”. Ông Dỹ tâm sự.

Ông Hoàng Công Ạch, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Lộc Ninh,  cho hay, trước đây khu nghĩa trang miền Nam nằm bên Quốc lộ 1A, sau ngày thống nhất đất nước, chính quyền địa phương đã tiến hành quy tập về khu vực hiện tại để giúp người thân sau này dễ tìm kiếm. Thời đó những người miền Nam tập kết khi mất đều được chôn cất tại khu nghĩa trang này.

Hy vọng qua những thông tin trong bài viết này, các sở, ban, ngành chức năng sẽ đầu tư tôn tạo khu nghĩa trang miền Nam để người thân của họ có nơi để hương khói, và cũng là tấm lòng của người Quảng Bình đối với đồng bào miền Nam ruột thịt.

                                                                                                  Minh Văn








 

,
.
.
.