Có một Điện Biên trong thơ
(QBĐT) - Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến công sáng chói trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Không những thế, chiến thắng này còn lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu. Bè bạn ta trên thế giới khi nhắc tới Việt Nam anh hùng bao giờ cũng kèm theo những cái tên Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp-Điện Biên Phủ. Ngay đến những "kẻ thù xứng đáng" một thời của ta cũng phải nghiêng mình cảm phục trước những con người và chiến thắng ấy. Như một lẽ tự nhiên, Điện Biên Phủ, vùng đất nổi tiếng đã đi vào thi ca với dấu ấn sâu đậm đầy tính sử thi và trữ tình.
Có lẽ, Tố Hữu là người đầu tiên làm thơ về chiến thắng Điện Biên Phủ. Tháng 5 năm 1954, bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên ra đời hòa vào khúc khải hoàn ca được cất lên từ lòng chảo Mường Thanh im tiếng súng. Một bài thơ mang vóc dáng trường ca hết sức hào sảng, bi tráng mà không kém phần lãng mạn. Âm hưởng anh hùng ca có trong bài thơ chính là hào khí quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta ở Điện Biên Phủ.
Hiện thực đời sống đã cộng hưởng mãnh liệt vào cảm xúc của thi sĩ, tạo ra dòng thơ ào ạt, khỏe khoắn. Khởi đầu từ những câu thơ ngắn, có nhịp điệu dồn dập như là tiếng reo vui bật lên, vang lên từ muôn triệu trái tim dân Việt: Tin về nửa đêm / Hỏa tốc hỏa tốc / Ngựa bay lên dốc / Đuốc chạy sáng rừng / Chuông reo tin mừng / Loa kêu từng cửa / Làng bản đỏ đèn đỏ lửa... Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, quân và dân ta phải vượt qua muôn vàn gian khó hy sinh mới làm nên được chiến thắng vĩ đại này. Niềm vui quá lớn, vỡ òa ra, bay cao lên nhưng lời ngợi ca lại rất bình dị: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên / Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp...
Xin các bạn dừng lại để ngẫm nghĩ kỹ hơn về hai câu thơ này. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, tài đức của Ông xứng đáng được nhận mọi lời ngợi ca tốt đẹp nhất.
Nhưng, Tố Hữu rất thấu lý đạt tình khi Hoan hô chiến sĩ Điện Biên trước Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp vì trong mọi cuộc chiến tranh yêu nước sự đóng góp của nhân dân, của chiến sĩ mới là vĩ đại nhất. Nhân dân và chiến sĩ phải được ghi công đầu tiên, bởi chỉ huy có tài ba đến bao nhiêu mà tướng sĩ không một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo từ thế kỷ 15 thì làm sao giành được thắng lợi.
Hình ảnh xả thân vì Tổ quốc của những người lính Cụ Hồ được khắc họa sắc nét: Chiến sĩ anh hùng / Đầu nung lửa sắt / Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt / Máu trộn bùn non / Gan không núng / Chí không mòn...
Điện Biên Phủ được làm nên bởi những người nông dân mặc áo lính mà tiêu biểu là Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện... Trong bài thơ này, Tố Hữu không nêu rõ tên các anh mà viết chung là Những đồng chí. Thật tinh tế. Để làm nên "võ công" Điện Biên Phủ đã có hàng trăm con người như Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện... Khi Tổ quốc cần thì có rất nhiều/ Những đồng chí thân chôn làm giá súng / Đầu bịt lỗ châu mai / Băng mình qua núi thép gai / Ào ào vũ bão / Những đồng chí chèn lưng cứu pháo / Nát thân nhắm mắt còn ôm...
Kề bên và ở phía sau những người lính xung trận là một dân tộc đang hành quân ra chiến trường: Và những chị, những anh, ngày đêm ra tiền tuyến / Mấy tầng mây gió lớn mưa to / Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ / Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát / Dù bom đạn, xương tan thịt nát / Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh... Đấy chính là hình ảnh của cả dân tộc Rũ bùn đứng dậy sáng lòa (thơ Nguyễn Đình Thi) để cho cuộc sống hòa bình, độc lập tự do và hạnh phúc đến với Điện Biên và đất nước Việt Nam: Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam / Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng... Cái sự lãng mạn được kết tụ đẹp đẽ ở đây trong sắc hương hoa trái Điện Biên và đất nước.
![]() |
| Núi rừng Điện Biên . |
Điện Biên tiếp tục là nguồn cảm hứng cho các nhà thơ đến với mảnh đất này. Sự bình yên của đất trời, cây cỏ hôm nay không hề che khuất những chứng tích lịch sử và âm vang của chiến thắng năm xưa.
Nhà thơ Anh Ngọc nhận ra điều ấy rất rõ, rất sâu trong một lần trở lại Điện Biên: Chỉ thấy một vùng cỏ biếc non tơ / Mây trắng bay mây trắng đến không ngờ / Cánh phượng rủ một chùm hoa đỏ chót / Chỉ có thế thôi ư / Mà chính là A một / Mà chính là Him Lam...
Vâng, thưa các bạn, để có yên bình cho mỗi ngọn cỏ, cành hoa, cho bầu trời Điện Biên mây trắng đến không ngờ đã có bao nhiêu máu và mồ hôi của chiến sĩ, nhân dân ta đổ xuống nơi A một, Him Lam, Hồng Cúm, Mường Thanh... Sau ngày 7 tháng 5 năm 1954, sau thời khắc lá cờ Quyết chiến Quyết thắng bay trên nóc hầm De Castries những hi sinh sẽ trở nên vô nghĩa nếu như cuộc sống không được như thế này: Từ chiến trường Điện Biên đến chợ Điện Biên / Mùi trái chín cứ thơm lừng phố núi / Quen thuộc quá đến không còn nhớ nổi / Tình yêu này anh có từ đâu / Đất dưới chân anh, trời thắm ở trên đầu... (Trở lại Điện Biên- Lá cờ và ngọn cỏ).
Rất nhiều người đến Nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên đã không cầm được nước mắt khi đứng trước những nấm mộ vô danh. Không ít người lính đã hiến dâng tất cả cho Tổ quốc; thân xác, tâm hồn, tên tuổi đều hòa tan vào đất đai, cây cỏ. Bài "Mộ chiến sĩ vô danh" của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đầy xúc động: Tấm bia trắng không dòng tên họ / Không năm sinh, không để dấu thôn làng / Như tất cả cuộn thành tiếng nổ / Ném vào hầm ngầm, ụ súng, xe tăng / Như tất cả anh gửi vào cho đất / Tôi lặng nhìn đồi A1 thấy hình anh...
Cuộc sống đã hồi sinh và thắm sắc đậm hương nơi vùng đất một thời là chiến địa khốc liệt. Hoa hồng ở Điện Biên mang trong nó những yêu dấu, khát vọng của quá khứ và hiện tại: Đất qua lửa cháy... Dường như / Hoa hồng thơm thảo nở từ chiêm bao / Mùa đi theo nhịp gió Lào / Chao ơi cái nắng gắt gao quá chừng / Mà màu hoa cứ rưng rưng / Ngẩn ngơ lối vắng ngập ngừng bước đi / Lắng trong lời gió thầm thì / Hoa hồng như muốn nói gì cùng ta / Biết đâu tên họ quê nhà / Trắng phau bia mộ, trắng nhòa nắng mai / Hoa hay máu thắm loang dài / Ở nơi nghĩa địa, tượng đài hồng hoa... (Nguyễn Đức Mậu-Hoa hồng ở Điện Biên).
Điện Biên, vùng đất cổ ở Tây Bắc, nơi cất giữ nhiều trầm tích văn hóa độc đáo lâu đời, bền vững. Đây là xứ sở của múa sạp, múa xòe, của áo cóm khăn piêu, của những làn điệu dân ca làm say đắm lòng người và chất Tây Bắc, chất Điện Biên hình như cũng có trong từng món ăn thức uống của con người nơi đây. Hèn gì, nhà thơ Vương Trọng đã mê đắm ngất ngây với "Đêm rượu Điện Biên": Chưa chi anh thấy mình thiếu tay / Xôi trong ép khẩu tay nào nhón / Tay nào vòng xòe hai phía nắm / Tay nào nâng rượu uống chéo tay? / Rượu này cất từ nếp Mường Thanh / Rượu này cất từ nước Nậm Rốm / Men này ủ từ lá Mường Phăng / Men này mang say từ vầng trăng...
May mắn thay, tôi cũng đã được ba lần đến với Điện Biên. Từ những dấu tích lịch sử văn hóa và nét đẹp của thiên nhiên, con người nơi đây, ấn tượng về Điện Biên của tôi ngày thêm sâu sắc. Quá khứ với hiện tại đan xen cài quyện vào nhau, hài hòa trong một tổng thể Điện Biên anh hùng và lãng mạn, chung và riêng không tách biệt: Chưa biết hẹn cùng ai lòng đã núi / mới Pha Đin đã bối rối Điện Biên rồi / qua chót vót đỉnh rừng, thăm thẳm suối / mây che mùa chiến dịch vẫn còn bay.../ Áo trấn thủ bập bùng đêm đuốc lửa / nhịp hò dô vượt dốc pháo vào - ra / mưa xối buốt những bàn tay máu tứa / đất đỡ người ngã xuống hôm qua / Về mùa em, lòng chảo lúa mượt mà / cầm tay núi nối vòng xòe dìu dặt / đồi A1 đặt vào tôi câu hát / tôi hát cùng áo cóm hoa ban (Nguyễn Hữu Quý-Điện Biên gọi tôi lên).
Còn nhiều bài thơ và trường ca khác viết về Điện Biên. Nhà thơ Anh Vũ đã có những vần thơ thực sự thăng hoa với Điện Biên trong trường ca "Lòng chảo khác" của mình: Đã nhấc khỏi lưng ta chảo bom chảo đạn / Nghe gió lên đủ chín núi mười mường / Quãng với tay / Bài thơ cánh mỏng Điện Biên / Hoa ban tím hoa ban hồng / Bâng lâng hoa ban trắng / Lá trái tim xanh phô cả tuổi mình / Hoa ban đi / Mùa ban sang năm quay vòng trở lại /Rừng nguyên sinh đi / Bao giờ / Nghìn tuổi còn về / Bọc những đoàn quân như kén bọc / Ai nhớ những cánh rừng làm nên Điện Biên...
Năm 2014. Sáu mươi mùa hoa ban đã đi qua kể từ ngày 7 tháng 5 năm 1954 lịch sử, chiến thắng Điện Biên Phủ như tấm huân chương lấp lánh trên ngực Tổ quốc thân yêu. Còn mãi, sáng mãi một “võ công” Điện Biên, một bi tráng Điện Biên, một trữ tình Điện Biên trong những vần thơ xúc động của nhiều thế hệ.
Nguyễn Hữu Quý
