Những bục giảng dưới hầm sâu
(QBĐT) - Chiến tranh đã lùi xa, những vết sẹo của một thời đạn bom khốc liệt đã kịp khép lại. Nhưng, ký ức về năm tháng chất chứa bao cảm xúc đó vẫn chưa bao giờ ngơi nghỉ, mà ngược lại, dư âm của chúng vẫn kéo dài, vang vọng và nhắc nhở cho thế hệ đi sau về thời hoa lửa anh hùng.
Thầy giáo Dương Viết Tuynh, Chủ tịch Hội Cựu giáo chức tỉnh xúc động khi kể về những ngày tháng sôi nổi của tuổi trẻ. Bắt đầu đi dạy từ năm 1962, đến năm 1966, chàng trai 23 tuổi sục sôi ý chí được Ty Giáo dục tỉnh cử về làm Hiệu trưởng Trường cấp 2 Bảo Ninh khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước bắt đầu những ngày tháng ác liệt nhất.
Xã biển Bảo Ninh với vị trí chiến lược của mình đã thực sự trở thành tầm ngắm của máy bay Mỹ và đạn pháo từ tàu chiến bắn vào. Trường có 9 lớp thì phải chia thành 18 lớp nhỏ, mỗi lớp từ 20 đến 25 học sinh. Thầy bùi ngùi tâm sự, lớp học bây giờ giống như một “pháo đài quân sự” thực thụ. Giữa lớp là một chiếc hầm to, đặt toàn bộ bàn, ghế, bảng đen của giáo viên, học sinh. Hai bên là 2 hầm chữ A dùng để trú ẩn khi có máy bay địch đến.
Thậm chí, từ hầm chữ A, còn có các giao thông hào để đi lại, đảm bảo an toàn cho học sinh. Hầm được làm bởi chính công sức của thầy cô, phụ huynh và học sinh từ những đợt lao động công ích lấy phi lao từ biển, gỗ từ nhà dân đóng góp... Các lớp học được rải đều toàn xã, mỗi thôn có 2 lớp, mỗi điểm trường cách nhau tới hơn 5 cây số. 25 thầy cô giáo tuổi đời còn rất trẻ vẫn miệt mài kiên trì bám trường giữ lớp. Và quan trọng hơn cả chính là sự đùm bọc, yêu thương của nhân dân, động lực lớn để đẩy lùi mọi khó khăn, gian khổ.
Ấy vậy, dù việc dạy và học vô cùng thiếu thốn, vất vả, các em vẫn học hành rất chăm ngoan, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp vào cấp 3 rất cao và Trường cấp 2 Bảo Ninh được vinh dự là một trong những trường tiên tiến toàn miền Bắc, được Bộ Giáo dục vào thăm quan, học tập mô hình. Bên cạnh việc học tập, các em học sinh còn làm nhiệm vụ chính trị dưới sự hướng dẫn của thầy cô, như: chuyển lương thực cho bộ đội, thông tin, liên lạc, tiếp đón học sinh tỉnh bạn... Hình tượng em bé Bảo Ninh của nhà thơ Nguyễn Văn Dinh cũng chính bắt nguồn từ thực tế này.
![]() |
| Những lớp học dưới hầm sâu của Quảng Bình trong năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. |
Tiến sĩ Nguyễn Đình Chắt, nguyên là bác sĩ công tác tại Bệnh viện Quân y 108, thuộc thế hệ học sinh Trường cấp 2 Bảo Ninh ngày trước, chia sẻ, những năm tháng gian khó, đầy thử thách đã vun đắp tri thức, lý tưởng sống cho nhiều thế hệ học sinh Bảo Ninh. Trong đạn bom, chính các thầy cô giáo hy sinh hết lòng vì học sinh thân yêu đã là ngọn lửa truyền đam mê, nhiệt huyết cho ông và bạn bè mình. Nhờ đó, dù học ở đâu, trong hay nước ngoài, học trò Bảo Ninh nói riêng và Quảng Bình nói chung vẫn không hề thua kém ai với ý chí, nghị lực và sự quyết tâm vượt qua mọi thử thách.
Sự nghiệp giáo dục của thầy Nguyễn Văn Hồng, nguyên là Phó Giám đốc Sở Giáo dục-Đào tạo, dường như gắn bó với từng mốc ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Năm 1964, thầy công tác tại Trường trung cấp Sư phạm Tam Tòa. Khi trường sơ tán lên Lệ Sơn (Văn Hóa, Tuyên Hóa), thầy được chứng kiến sự hy sinh anh dũng của biết bao chiến sĩ ta trong trận đánh ở sông Gianh. Cả thầy và trò suốt một đêm không ngủ lao xuống các tàu giúp bộ đội cấp cứu thương binh, vận chuyển lương thực. Năm 1965, thầy được cử về Ty Giáo dục phụ trách bộ môn Văn và công tác đoàn đội, bắt đầu thời gian làm quản lý với những vất vả, gian truân mới.
Thầy tâm sự, những chuyến đi họp Hà Nội bằng xe đạp kéo dài hơn cả tuần lễ, các hoạt động chủ yếu của Ty Giáo dục dưới hầm sâu, sự đùm bọc yêu thương của bà con... là ký ức không thể nào phai trong tâm trí thầy. Bất kỳ người thầy, người cô nào cũng tâm niệm, làm công tác giáo dục là chiến đấu, lớp học là chiến trường, sách vở, bút mực là vũ khí và thầy trò chính là chiến sĩ. Năm 1971, khi cuộc chiến ngày càng trở nên cam go, ác liệt hơn, thầy được cử về làm Hiệu phó Trường cấp 3 Bắc Quảng Trạch-nơi trải nghiệm thực tế sôi nổi, hào hùng trong năm tháng đứng trên bục giảng của thầy.
Với hơn 1.000 học sinh và gần 100 cán bộ giáo viên, việc bảo đảm chất lượng dạy học và sự an toàn của thầy trò là điều vô cùng khó khăn. Thầy và trò cùng nhau đi chặt gỗ, rào, bứt tranh về làm hầm dạy học, hầm chữ A, giao thông hào... Những chiếc bàn, chiếc ghế có khi rất đơn giản chỉ là 4 cọc tre và lá phủ lên trên. Rồi trong cam go, gian khổ, cái đói cứ bủa vây thầy trò. Nhiều học sinh từ xã Quảng Liên mang khoai đến lớp ăn thay cơm vào buổi trưa, có em còn vừa đi học, vừa mang theo một buồng cau để bán lấy tiền ăn trưa.
Vì lẽ đó, phong trào “Hai giỏi” được nhà trường phát động từ sớm và mang lại nhiều thành tích rực rỡ. Trường có nhiều học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, phong trào văn hóa văn nghệ sôi nổi, góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu, sản xuất của bà con. Nhà trường hướng dẫn học sinh tham gia lao động sản xuất, trồng trọt hoa màu, lương thực. Khi máy bay bắn phá ác liệt, trường phải rời lên núi, học sinh và thầy cô vẫn miệt mài đào hầm sâu và tăng gia sản xuất. Sân trường được ví như một mô hình hợp tác xã thu nhỏ: nuôi bò, xây lò chưng cất dầu tràm, trồng khoai, lúa...
Mỗi lớp là một đội sản xuất và thầy cô giáo chủ nhiệm cũng là đội trưởng. Điểm đặc biệt chính là tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai của thầy và trò ngay cả trong giai đoạn gian khổ nhất của cuộc chiến. Thầy Hồng tổng kết, sức mạnh của giáo dục thuở đó có lẽ bắt nguồn từ chính ý chí, nghị lực của thầy trò và sự giúp sức, đùm bọc của đồng bào. Bởi nếu không có sự chia sẻ, hy sinh đó, những lớp học dưới hầm sâu sẽ thật khó nên hình hài.
Lần giở trong hệ thống tư liệu của Bảo tàng tổng hợp Quảng Bình, chợt xúc động bồi hồi khi đọc được những dòng chữ đầy tự hào của Báo cáo tổng kết phong trào hai tốt xây dựng trường học tiên tiến chống Mỹ cứu nước năm học 1965 - 1966. Trong bối cảnh khó khăn, chất lượng học sinh thi hết cấp 1 đạt 94,8%, cấp 2 đạt 98,3%, cấp 3 đạt 93%. Tỉnh ta có hàng ngàn học sinh tiên tiến, cháu ngoan Bác Hồ, hàng trăm học sinh giỏi tỉnh và 83 em được Bác Hồ khen ngợi.
Ty Giáo dục chọn lọc được đội ngũ 44 giáo viên giỏi, 10 đồng chí được Bác Hồ khen thưởng. Phong trào thi đua sản xuất trong nhà trường đạt kết quả cao với các đợt thi đua nổi bật, như: “Đội kỵ binh chống Mỹ”, “Anh cả chị hiền”, “Em chăm cho hồ thêm đầy”... Bên cạnh đó, các nhà trường còn tham gia tích cực vào việc cứu thương, đắp công sự, góp lá ngụy trang, giẻ lau súng..., góp sức nhỏ bé cho cuộc chiến trường kỳ của dân tộc.
40 năm đã trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng với những ai từng một lần thắp đèn dầu dưới hầm sâu nghe giảng, hay cầm phấn đứng viết trên bục giảng đơn sơ trong lòng đất năm nào sẽ không giấu nổi niềm tự hào, xúc động khi nhớ về. Và với lớp trẻ, họ cần phải hiểu rằng, những giá trị của giáo dục trong thời chiến vẫn luôn tỏa sáng và soi đường đến tận thời bình.
Mai Nhân
