Bảo tồn văn hóa dân tộc từ góc nhìn quan tâm đến nghệ nhân dân gian

Cập nhật lúc 09:43, Thứ Tư, 11/04/2018 (GMT+7)
(QBĐT) - Trải qua lịch sử lâu dài, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam đã sáng tạo ra nền văn hóa dân tộc mình. Nền văn hóa đó phản ánh số phận lịch sử, tâm tư nguyện vọng, tư tưởng tình cảm, đạo đức, đạo lý, phương cách ứng xử với thiên nhiên và xã hội... Tất cả làm nên bản sắc văn hóa riêng của mỗi tộc người. Đó là tài sản vô cùng quí giá của đất nước ta nói chung và quê hương Quảng Bình nói riêng.
 
Nhờ đó, mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng một gia tài văn hóa phong phú, độc đáo có giá trị vật thể và phi vật thể, để trên cơ sở đó giữ gìn và phát huy, thừa kế và phát triển, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam đương đại tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó, con người là chủ thể tạo ra các giá trị văn hóa trường tồn ấy.
 
Theo GS - TSKH Tô Ngọc Thanh: "Căn cứ vào mối quan hệ của con người với một đối tượng cụ thể, tôi tạm chia làm 5 đối tượng văn hóa phi vật thể: Văn hóa sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Văn hóa xã hội thể hiện mối quan hệ con người với cộng đồng. Văn hóa sinh hoạt thể hiện mối quan hệ của con người với những nhu cầu sinh học của chính con người. Văn hóa tâm linh thể hiện mối quan hệ của con người với những điều không trông thấy, không giải thích được, nhưng lại được mọi người tin rằng có thật. Văn hóa nghệ thuật thể hiện con người với cái đẹp".
 
Với quan điểm của GS - TSKH Tô Ngọc Thanh và qua khảo cứu trong thực tiễn văn hóa phi vật thể bao trùm hết mọi phương diện cuộc sống con người và chiếm đa phần trong vốn di sản văn hóa của Quảng Bình, sự phân chia 5 loại hình chỉ là sự phân định tương đối, còn thực chất đó là sự gắn kết một cách biện chứng với nhau. Vốn di sản văn hóa phi vật thể, do hoàn cảnh lịch sử đất nước ta nói chung và Quảng Bình nói riêng, chủ yếu được lưu giữ trong trí nhớ của con người. Do văn hóa phi vật thể ấy là văn hóa dân gian, nó là kết quả sáng tạo chủ yếu của nhân dân lao động các tộc người và các dân tộc trong quá trình lịch sử, được kết tinh và tích tụ lại. Từ thời xa xưa trong các sinh hoạt cộng đồng, người dân bao thế hệ không những lưu giữ trong trí nhớ mà còn trao truyền lại cho cộng đồng qua thực hành sinh hoạt thường ngày, tết lễ, hội hè... Từ đó, văn hóa phi vật thể thuộc về sở hữu cộng đồng.
Thi hò  đối đáp giữa làng văn hóa Sạt và làng văn hóa Cổ Liêm tại Lễ hội Rằm tháng Ba Minh Hóa.
Thi hò đối đáp giữa làng văn hóa Sạt và làng văn hóa Cổ Liêm tại Lễ hội Rằm tháng Ba Minh Hóa.
Trong một thời điểm lịch sử nhất định, một cộng đồng, một vùng đất thường xuất hiện những con người qui tụ trong họ vốn liếng và tài năng sáng tạo của cộng đồng về một hay vài lĩnh vực nào đó của văn hóa. Do vậy, họ trở thành đại diện, người nổi trội của cộng đồng về lĩnh vực đó. Chính họ là người lưu giữ và truyền dạy cho thế hệ sau vốn liếng và văn hóa của cộng đồng. Chẳng những thế, họ còn sáng tạo hoặc chắt lọc sáng tạo của cả cộng đồng, góp phần làm bổ sung làm giàu đẹp thêm cho bản sắc văn hóa cộng đồng.
 
Tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO đề nghị tặng họ danh hiệu Báu vật nhân văn sống. Còn chúng ta vẫn quen gọi là nghệ nhân. Vậy là, nghệ nhân đóng vai trò then chốt trong việc giữ gìn, thực hành và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc. Khi khẳng dịnh vai trò nghệ nhân, GS - TSKH Tô Ngọc Thanh đánh giá: "Nếu không có họ thì chắc chắn một khối lượng lớn các giá trị văn hóa sẽ không được bảo lưu một cách tập trung nhất cũng như không có "thầy" để dạy dỗ lớp trẻ".
 
Trong văn hóa các tộc người Quảng Bình, chỉ có người Kinh mới có các thành phần văn hóa chuyên nghiệp, bác học... Còn 2 dân tộc thiểu số với 10 tộc người thì vẫn mang nặng hoặc chỉ là văn hóa dân gian, chủ yếu được ghi lại  trong trí nhớ của con người. Mọi công đoạn phổ biến, sáng tạo, bổ sung và truyền dạy được thực hiện thông qua các động tác thực hành. Công lao của các nghệ nhân vô cùng to lớn. Chính nhờ các nghệ nhân  mà qua bao thăng trầm của lịch sử, chiến tranh liên miên, thiên tai khắc nghiệt, nhưng vốn văn hóa,văn nghệ dân gian ngàn xưa của dân tộc Việt Nam vẫn được giữ gìn cho đến ngày nay. Quảng Bình là  nơi giao thoa văn hóa Bắc -  Trung - Nam rõ nét, nhưng vẫn có nét riêng biệt đậm đà bản sắc quê hương, như hò khoan Lệ Thủy, hò thuốc Minh Hóa, hò phường nón Ba Đồn, hò khơi Bố Trạch, hò biển Đồng Hới, hát ru Cảnh Dương, hát Kiều Quảng Trạch và Ba Đồn, hát ca trù Tuyên Hóa và Quảng Trạch, hát ví và hát đúm Minh Hóa,... Hoặc ở miền núi các tộc người thiểu số Vân Kiều, Mày, Khùa, Ma Coong,... vẫn hát đi sim, hát đối đáp giao duyên, hát mừng lúa mới,...
         
Ban chấp hành Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam khóa IV có Qui chế công nhận danh hiệu Nghệ nhân dân gian của hội, ngày10-6-2002 đến nay đã được 15 năm. Căn cứ vào qui chế trân, Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tỉnh Quảng Bình đã tích cực thẩm định hướng dẫn nghệ nhân Quảng Bình làm hồ sơ trình lên Văn phòng Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, gồm 18 hồ sơ nghệ nhân, đã được vinh danh 13 vị, nay đã qua đời 2 vị vì già yếu, còn 5 hồ sơ trình năm 2017 đang chờ xét duyệt.
 
Quan tâm đến nghệ nhân là sự nuôi dưỡng chăm chút tài năng văn hóa cho dân tộc. Đây là một việc làm  không mới, nhưng giàu chất nhân văn, biểu hiện sự tôn kính của những người làm công tác quản lý, lãnh đạo và những người học trò luôn quý trọng tài năng của những người thầy đáng kính của mình trong dân gian.
Đặng Thị Kim Liên
,
.
.
.