Sính lễ đặc biệt của người Bru-Vân Kiều

Cập nhật lúc 15:08, Thứ Sáu, 20/05/2016 (GMT+7)

(QBĐT) - Có những phong tục của ông cha Bru-Vân Kiều mang đến phiền toái và cả đớn đau cho con cháu họ. Đơn cử như tục cà răng, căng tai rùng rợn ngày trước. Lại có những bản sắc truyền thống góp phần hình thành nên nền nếp tộc người để trở nên quy cũ, chặt chẽ; cho duyên đôi lứa luôn khăng khít, vẹn tròn và đầy nghĩa tình, trách nhiệm. Đó là phong tục chú rể trao chiếc nồi đồng, thanh kiếm và miếng bạc nén cho cô dâu trong ngày đại hỷ.  

Ngày cưới, tại nhà chú rể mâm cỗ bày biện tùy theo điều kiện để bà con, bè bạn ăn lót dạ lấy sức đến nhà nữ đón dâu. Giờ đón dâu phải là thời khắc tảng sáng nhằm sinh động hóa quan niệm của tiền nhân, rằng bình minh là lúc vạn vật tràn trề nội lực, là buổi mới mẻ khởi sự cho mọi điều tốt đẹp. Bởi thế, đây chính là thời điểm tinh khôi nhất để “bắt” dâu. Thể theo phong tục đó, ngày cưới của người Bru-Vân Kiều, nhà trai nếu cách xa nhà gái thì phải khởi sự đoàn tùy tùng vào lúc đêm khuya, mò mẫm giữa rừng rú để đến nhà nữ cho kịp lễ. Lễ vật nhà trai mang đến thường có vòng tay bằng bạc, vòng cổ mã não, váy áo truyền thống và không thể thiếu chiếc nồi đồng, thanh kiếm và miếng bạc nén. Đây là ba lễ vật phải có để tiến hành tục trao kiếm trong ngày cưới, xác tín với tất thảy rằng cô gái này đã đủ điều kiện “gánh vác giang sơn nhà chồng”.

Nồi đồng, thanh kiếm và miếng bạc nén, sính lễ bắt buộc để cưới vợ của đàn ông Bru-Vân Kiều.
Nồi đồng, thanh kiếm và miếng bạc nén, sính lễ bắt buộc để cưới vợ của đàn ông Bru-Vân Kiều.

Sau nghi lễ vái lạy tiên tổ, bố mẹ hai bên và người mai mối, nghi thức trao kiếm bắt đầu. Chú rể tuốt thanh kiếm ra khỏi bao, đặt lên miệng chiếc nồi đồng, bên cạnh đó có thêm miếng bạc nén. Xuất xứ của miếng bạc nén có từ thời thuộc Pháp. Trong lòng bản làng Bru-Vân Kiều xuất hiện một vài nghệ nhân chuyên gia công loại khuôn đúc bạc nén, bằng cách nung chảy đồng bạc Đông Dương (tức xu bạc “hoa xòe” là đơn vị đếm cơ bản của đơn vị tiền tệ mà “mẫu quốc” Pháp phát hành và cho lưu thương tại ba nước Đông Dương từ năm 1885-1954), sau đó múc đổ vào khuôn thành hình miếng bạc nén phục vụ phong tục hỏi cưới của đồng bào mình. Theo đó, nếu nhà trai có điều kiện thì trong ngày cưới con, họ sẽ tặng nhà nữ bao nhiêu bạc nén tùy ý. Các già làng Bru-Vân Kiều cho hay, lòng thành mới quý hóa, chứ lễ vật ngoài những thứ có trong khuôn khổ, thì miễn sao đừng bạc bẽo quá là được nhậm lời tất.

Tiếp đến, cô dâu sẽ tiếp nhận sính lễ của nhà nam và đưa tất cả cho mẹ mình. Mẹ cô dâu sau khi nhận lễ từ tay con, sẽ đặt trang trọng trong một chiếc típ (đồ đan bằng mây tre, tựa như một chiếc gùi thu nhỏ) mang ra sau chái bếp. Bà từ từ khơi lửa trong bếp lên thật đượm, lấy sừng trâu múc nước trong thau nhôm đã chuẩn bị sẵn đổ vào nồi đồng rồi bắc nồi lên bếp nấu. Khi nước bắt đầu sôi, bà bỏ miếng bạc nén vào, đoạn bà tiếp tục đun lửa đến khi nước sôi hao cạn tới đáy thì ngưng. Để kết thúc nghi lễ trao kiếm, bà tuốt kiếm ra khỏi bao và đâm dứt khoát mũi kiếm xuống cạnh chiếc nồi đồng rồi lẩm bẩm đọc lời cầu khấn. Chừng 5 phút sau, bà chỉ tay ra hiệu với bà con hai họ mọi thủ tục đã hoàn tất. Ngoài 2 mẹ con cô dâu ra, giây phút ấy ai cũng hớn hở vỗ tay chúc mừng.

Giải nghĩa tục lệ này, người Vân Kiều cho hay, mũi kiếm và chuôi kiếm là hai thực thể trong một thân thể, tượng trưng cho người chồng và người vợ. Cưới nhau rồi thì thề nguyện tương tri, gắn bó trăm năm. Ngoài ra thanh kiếm còn là lời khẳng định đanh thép về khí khái và thể trạng của đàn ông Bru-Vân Kiều, ngầm xác tín với nhà nữ về một tương lai yên bình của con cái họ. Cũng vậy, chiếc nồi đồng và miếng bạc nén tượng trưng cho sự no đủ, là biểu tượng may lành sẽ tới với đôi tân hôn mai này. Tất cả sính lễ đó sẽ do nhà nữ cất giữ. Nhà nào sinh toàn con trai cứ việc chuẩn bị chừng ấy đồ lễ để hỏi cưới cho con. Giàu có thì kiếm sẽ được khắc chạm tinh xảo từ lưỡi đến chuôi; còn không thì bằng cách nung dẹt thanh sắt thành hình cái kiếm là được.

Kiếm, nồi đồng và bạc nén vơi dần theo khói bom và cả chuyện đổi chác để lấy lương thực, thực phẩm qua những lời gọi mời áo cơm khó cưỡng trong thời kỳ đói thiếu. Tuy vậy, phong tục trao sính lễ trong ngày cưới của người Bru-Vân Kiều vẫn tiềm tàng sức sống cho đến hôm nay, dẫu đã khác xưa đi nhiều. Giờ người ta có thể vô tư mượn lễ vật của nhau hoặc mỗi dòng họ chỉ việc chuẩn bị một bộ kiếm, nồi đồng và miếng bạc nén để phục vụ ngày cưới cháu trai của mình. Nhà nữ giờ không giữ sính lễ lại làm của riêng nữa mà cho phép nhà nam “mượn” lại, nhờ thế mới nối dài được phong tục cưới hỏi đặc biệt này của tộc người mãi về sau.

Nguyễn Tiến Dũng

,
.
.
.