Chuyện lão nông "giàu tiền, giàu nghĩa"

Cập nhật lúc 11:06, Chủ Nhật, 13/08/2017 (GMT+7)

(QBĐT) - Sau hơn 15 năm lên bờ, bằng những nỗ lực vượt bậc, vợ chồng ông Hà Văn Thú (thôn Đại Sơn, xã Đồng Hóa, huyện Tuyên Hóa) đã gây dựng một cơ ngơi tiền tỷ. Có một điều rất trân quý, khi đã trở nên giàu có, vợ chồng ông Thú đã không quên những người nghèo một thời lênh đênh sông nước với mình mà quay lại giúp họ cùng vươn lên...

Gian nan lên bờ… tìm kế sinh nhai

Bây giờ, vợ chồng ông Thú đã có trong tay cơ ngơi tiền tỷ gồm một trang trại tổng hợp nuôi lợn, gà, dê, bò... rộng hơn 2 ha; một cửa hàng buôn bán vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp và mua bán nông sản mỗi năm cho doanh thu gần 3 tỷ đồng...

Nhìn cơ ngơi ấy, rất ít người biết được rằng, cách đây 15 năm về trước, vợ chồng ông Thú là những người dân vạn đò có cuộc sống lênh đênh cùng dòng nước sông Gianh...

“Vợ chồng tui vốn là dân vạn đò, không tấc đất cắm dùi, đi lên từ tay trắng, thấu hiểu được những đắng cay, tủi nhục của sự nghèo nên giúp đỡ được bà con tui cũng sẵn sàng giúp đỡ. Sức tui đến đâu tui giúp đến đó để bà con ai cũng có cuộc sống ổn định...” – ông Hà Văn Thú tâm sự.

Người viết bài này, hôm 12.7, khi gọi điện cho ông Thú để hỏi thêm thông tin thì được biết ông đang đưa một người làng đi chữa bệnh ở TP. Huế.

“Không phải bà con của tui mô, thằng Phạm Đức Hạnh ở cùng làng, gia đình hắn khó khăn, bọ mạ hắn không được lanh lẹ cho lắm, tui thấy thương nên đưa nó đi viện...” – ông Thú trả lời nhẹ nhàng qua điện thoại.

Ông Thú kể rằng, cũng như những đứa trẻ vạn đò khác, ông có một tuổi thơ cơ cực gói gọn trong 5m2 của con đò, cũng là ngôi nhà và phương tiện kiếm ăn của bố mẹ. Cuộc sống vạn đò cơ cực đâu chỉ chuyện ăn, chuyện ở, thiệt thòi nhất với những đứa trẻ vạn đò như ông Thú là cảnh thất học truyền đời...

Năm 1992, ông Thú lập gia đình nhưng 2 vợ chồng ông phải sống cảnh vạn đò sông nước thêm 8 năm trời nữa. Đến năm 2000, với chức trách là phó thôn Vạn Đò với gần 100 hộ dân, ông Thú  đã quyết định làm đơn gửi lên xã Đồng Hóa và huyện Tuyên Hóa xin cho bà con  được lên bờ.

Đơn của ông Thú đã được lãnh đạo xã Đồng Hóa, lãnh đạo huyện Tuyên Hóa  chấp nhận, nhưng để đưa được gần 100 hộ dân với hơn 500 con người lên bờ không phải là một chuyện dễ dàng.

“Đa số bà con trong thôn Vạn Đò đều muốn lên bờ nhưng vì nghề nghiệp của người dân đều gắn với sông nước nên họ yêu cầu nếu lên bờ thì phải được ở gần sông, chứ xa sông thì họ biết làm gì để sống. Trong khi đó, quỹ đất theo yêu cầu của bà con đã không còn, hoặc nằm vào vùng sạt lở... Vì vậy, bà con dù rất muốn nhưng cứ chần chừ mãi mà không ai chịu lên bờ...” – ông Thú nói.

Chưa ai chịu lên bờ thì ông Thú lên trước để làm gương. Theo chính sách của xã Đồng Hóa, gia đình ông Thú được cấp đất ở đồi Cỏ May, một vùng đất hoang hóa, cằn cỗi  nằm sát núi đá vôi mà nhiều người chê nên còn sót lại. Nhớ lại những ngày đầu lên bờ đầy khó khăn, ông Thú kể, ngày lên bờ, vợ chồng ông chỉ có được hơn chục triệu bạc vừa bán chiếc đò. Số tiền đó chỉ đủ để ông dựng tạm căn lều nhỏ để  chui ra chui vào...

Tay trắng dựng cơ đồ

Sau khi có chốn “an cư”, vợ chồng ông Thú bắt đầu đặt những “viên gạch” đầu tiên cho sự nghiệp làm trang trại của mình và chọn nghề chăn nuôi làm hướng chủ đạo.“Nói làm trang trại cho oai chứ thực ra lúc ấy vợ chồng tui cũng bắt đầu làm từ cái chuồng đơn giản nhất, lúc đầu thì thả 1 đến 2 con giống, sau thì tăng dần lên. Không có tiền để đầu tư nên vợ chồng tui chủ yếu bỏ sức để làm. Từ cuốc đất khai hoang trồng khoai, trồng sắn để có cái làm thức ăn cho heo, đến việc xây chuồng, 2 vợ chồng đều tự tay làm cả. Ban ngày làm không xong, vợ chồng tui thắp đèn làm cả đêm...” – ông Thú  nhớ lại.

30 tổ ong mật trong khuôn viên trang trại ông Thú mỗi năm cho thu nhập hơn 50 triệu đồng.
30 tổ ong mật trong khuôn viên trang trại ông Thú mỗi năm cho thu nhập hơn 50 triệu đồng.

Chuồng làm xong, ông Thú vay bà con,  Hội Nông dân những đồng vốn đầu tiên để mua giống về thả. Thế nhưng, lứa lợn đầu tiên đó, ông Thú trắng tay, cụt cả vốn vì đàn lợn mắc phải dịch bệnh chết hết. Không bỏ cuộc, ông Thú quyết định bỏ công đi học lớp sơ cấp thú y; các lớp kỹ thuật về chăn nuôi, cách phòng ngừa dịch bệnh cho lợn. Ngày đó, hễ nghe tin ở đâu có lớp tập huấn là ông Thú cơm đùm gạo nắm đi học dù nhiều chỗ ông không được mời...

Sau khi  “tầm sư học đạo” xong, ông Thú đã quyết định cầm “sổ đỏ” vay 150 triệu đồng từ ngân hàng trở lại với công việc chăn nuôi lợn còn dang dở. Nhờ đã biết cách nuôi khoa học, đàn lợn của gia đình ông Thú không ngừng tăng lên hàng năm, mỗi năm đem về cho gia đình ông nguồn thu đạt hơn 100 triệu đồng. “Năm vừa qua, giá lợn giảm sâu nên vợ chồng quyết định không tăng trưởng đàn lợn để đầu tư vào những công việc khác. Tuy vậy, chúng tôi vẫn duy trì nuôi 30 mạ nái để có nguồn giống chăn nuôi và hỗ trợ bà con quanh vùng” – ông Thú cho biết.

Không dừng lại ở việc chăn nuôi lợn, những năm gần đây vợ chồng ông Thú còn mở rộng trang trại với vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Trong khuôn viên nhà ông Thú đang nuôi gần 30 tổ ong lấy mật, đưa lại thu nhập hàng năm hơn 50 triệu đồng. Nhận thấy ngọn đồi trước nhà có tiềm năng cho việc nuôi dê, vợ chồng ông đã  mua 6 con dê giống về chăn thả, sau gần một năm  số lượng đàn dê đã tăng lên hàng chục con.

Ngoài ra, vợ chồng ông Thú còn nuôi thêm hàng chục con bò, hàng ngàn con gà thả vườn mỗi năm. Để chủ động nguồn thức ăn cho vật nuôi, vợ chồng ông Thú  còn chịu khó trồng thêm 6 sào sắn, 4 sào cỏ và 2 sào ngô... Những năm gần đây, với số tiền lãi thu được từ chăn nuôi, vợ chồng ông Thú đã mạnh dạn mở rộng đầu tư vào kinh doanh.

Hiện, gia đình ông Thú có một cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp, kết hợp thu mua nông sản cho người dân trong vùng. Việc buôn bán thuận lợi, kinh tế gia đình ông khá giả hẳn lên, con cái được học hành đàng hoàng, thành đạt. Ông Thú có 4 người con thì người con trai đầu đã đi làm giáo viên, người con thứ 2 đang học ở Học viện Biên phòng, người thứ 3 đang học đại học sư phạm và con út đang học lớp 12. “Cũng nhờ được lên bờ mà con tui đã được học hành đến nơi đến chốn, đó là điều mà vợ chồng tui nghĩ là đúng đắn nhất khi quyết định lên bờ” – ông Thú tâm sự.

Nặng lòng với người vạn chài

Bao năm vật lộn với quê nghèo, vợ chồng ông Thú đã gây dựng được cho mình một cơ ngơi tiền tỷ. Thế nhưng, với người dân trong vùng, đặc biệt là với những người dân vạn đò một thời lênh đênh sông nước, vợ chồng ông Thú không chỉ giàu tiền mà còn giàu nghĩa. Sau khi lên bờ, có cuộc sống ổn định, ăn nên làm ra, vợ chồng ông Thú đã quay lại vận động hàng trăm người dân vạn đò khác cùng lên bờ lập làng, lập nghiệp. Những ngày đầu lên bờ đầy khó khăn, những người dân vạn đò đã được vợ chồng ông Thú hỗ trợ con giống, truyền đạt kinh nghiệm chăn nuôi, cho mua chịu vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng... để ổn định cuộc sống.

Mỗi khi nhắc đến vợ chồng ông Thú, ông Nguyễn Văn Thanh, người dân một thời sống kiếp vạn đò, bảo đó là ân nhân của gia đình ông. Bao năm sống kiếp vạn đò, ông Thanh được ông Thú vận động lên bờ, hỗ trợ con giống, vốn liếng ban đầu mà bây giờ đã có cuộc sống khấm khá.

Còn ông Trần Văn Tâm, hiện sống cạnh nhà ông Thú thì tâm sự: “Những năm gần đây, bà con chúng tôi sản xuất nông nghiệp, cứ đầu vụ thì đến nhà bác Thú lấy vật tư con giống về làm, cuối vụ thu hoạch nông sản thì được bác ấy thu mua cho với giá ổn định nhất. Đơn cử như năm nay, giá lạc trên thị trường giảm sâu, nhưng bác Thú vẫn thu mua cho bà con giá cao nhất có thể, dù rằng đa số bà con ở đây đều nợ tiền gia đình bác ấy từ đầu vụ. Cái tình, cái nghĩa ấy không phải ai cũng có...”

Phan Phương




 

,
.
.
.