Tìm hiểu Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017:

Một số nguyên tắc, tiêu chí xác định diện đối tượng được trợ giúp pháp lý

Cập nhật lúc 14:53, Thứ Ba, 14/11/2017 (GMT+7)

(QBĐT) - Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân và là một bộ phận của tổng thể các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, chính sách dân tộc và ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ này được triển khai từ năm 1997 theo Quyết định số 734/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Luật TGPL lần đầu tiên được Quốc hội ban hành vào năm 2006 và qua 10 năm triển khai đã đạt được những thành quả đáng kể trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế.

Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật quan trọng mới được Quốc hội ban hành, tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp do đó đã đặt ra yêu cầu điều chỉnh thể chế để đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác TGPL. 

Ngày 20-6-2017, Quốc hội khóa XIV đã tiếp tục ghi nhận vị trí, vai trò công tác TGPL bằng việc thông qua Luật TGPL với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Sự ra đời của Luật TGPL năm 2017 đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế công tác TGPL nói riêng và triển khai Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung. Qua đó, tiếp tục khẳng định TGPL là một yếu tố quan trọng trong hệ thống tư pháp hình sự, là trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân cho đối tượng được TGPL.

Luật TGPL 2017 có một số điểm mới nổi bật, trong đó đặc biệt là liên quan đến mở rộng diện người được TGPL theo các nguyên tắc, tiêu chí cụ thể, phù hợp với bản chất của TGPL và điều kiện đặc thù của đất nước. Đây cũng là vấn đề được quan tâm và thảo luận nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật TGPL năm 2017.

Qua nhiều lần thảo luận và ý kiến góp ý của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, Quốc hội đã thống nhất việc xác định diện người được TGPL cần phải dựa trên những nguyên tắc, tiêu chí cụ thể, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật hiện hành và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Theo đó, việc quy định người được TGPL dựa trên 2 nguyên tắc, tiêu chí sau đây:

Thứ nhất, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng; chính sách dân tộc; chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Đây là những đặc thù của Việt Nam trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ hai, trợ giúp đối với một số nhóm đối tượng yếu thế nhất trong xã hội có khó khăn về tài chính, không đủ khả năng chi trả thù lao cho luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý. Đây là bản chất của hoạt động TGPL đã được nhiều nước công nhận trên thế giới.

So với Luật TGPL năm 2006 chỉ quy định 6 diện người được TGPL thì trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới của đất nước, tại Điều 7 của Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng với 14 diện người được TGPL và có diện người kế thừa từ Luật TGPL năm 2006 cũng được phát triển hơn, cụ thể như sau:

- Nhóm người được kế thừa hoàn toàn từ Luật TGPL năm 2006 gồm 2 diện là: (1) Người có công với cách mạng (khoản 1 Điều 7 Luật TGPL 2017); (2) Người thuộc hộ nghèo (khoản 2 Điều 7 Luật TGPL 2017).

- Nhóm người được kế thừa và mở rộng từ Luật TGPL năm 2006 gồm 2 diện là: (1) Trẻ em (quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật TGPL 2017, được mở rộng từ trẻ em không nơi nương tựa theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật TGPL 2006); (2) Người dân tộc thiểu số cư trú tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (quy định tại khoản 4 Điều 7 Luật TGPL 2017, được mở rộng từ người dân tộc thiểu số thường trú tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại khoản 4 Điều 10 Luật TGPL 2006).

- Nhóm người được bổ sung mới gồm 2 diện là: (1) Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (quy định tại khoản 5 Điều 7 Luât TGPL 2017, hiện nay đang thuộc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự 2015); (2) Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo (quy định tại khoản 6 Điều 7 Luật TGPL 2017.

- Nhóm người áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính đối với 8 diện tại khoản 7 Điều 7 Luật TGPL 2017 là: (1) cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; (2) người nhiễm chất độc da cam; (3) người cao tuổi; (4) người khuyết tật; (5) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; (6) nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; (7) nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; (8) người nhiễm HIV để cung cấp cho những người thực sự có nhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý.

Điều kiện khó khăn về tài chính sẽ được quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật TGPL. Như vậy, đối với nhóm người này phải đáp ứng hai điều kiện: Có khó khăn về tài chính theo hướng dẫn của Chính phủ và thuộc một trong 8 diện người nêu trên.

Có thể thấy, việc mở rộng diện đối tượng TGPL nêu trên đã thể hiện rõ nét chính sách nhân văn, sự quan tâm toàn diện của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng chính sách và đối tượng yếu thế. Khi đáp ứng được đầy đủ, chất lượng nhu cầu TGPL của các diện người được quy định trong Luật cũng sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Phan Trọng Hùng
(Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Quảng Bình)

 

,
.
.
.