Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Cập nhật lúc 08:56, Thứ Năm, 06/07/2017 (GMT+7)

(QBĐT) - Tập trung thực hiện có hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo (KNTC), phản ánh của công dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, được tỉnh ta đặc biệt quan tâm chú trong thực hiện trong thời gian qua.

Theo báo cáo của Thanh tra tỉnh, 6 tháng đầu năm 2017 tổng số lượt công dân đến các cơ quan hành chính Nhà nước để KNTC, phản ánh, kiến nghị và gửi đơn thư tăng so với cùng kỳ năm 2016. Cụ thể, thực hiện công tác tiếp công dân, các cơ quan hành chính Nhà nước đã tiếp 1.092 lượt công dân (có 98 lượt đoàn đông người), so với cùng kỳ năm 2016 tăng 336 lượt.

Trong đó, Trụ sở tiếp công dân tỉnh tiếp 126 lượt; Thanh tra tỉnh và các sở, ngành, huyện, thành phố, thị xã tiếp 966 lượt. Về thực hiện công tác tiếp nhận, xử lý đơn  KNTC của công dân, các cấp, ngành trong tỉnh đã nhận 599 đơn KNTC, phản ánh, kiến nghị của công dân (so với cùng kỳ năm 2016 tăng 12 đơn). Trong đó, khiếu nại 180 đơn (giảm 51 đơn); tố cáo 101 đơn (giảm 25 đơn), phản ánh, kiến nghị 318 đơn (tăng 88 đơn).

Qua tiếp nhận đơn, các cơ quan hành chính Nhà nước đã tiến hành nghiên cứu, phân loại đơn để xử lý theo quy định. Riêng đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, ngành trong tỉnh là 154 đơn (so với cùng kỳ năm 2016 giảm 26 đơn). Trong đó, khiếu nại 112 đơn (giảm 23 đơn), tố cáo 42 đơn (giảm 3 đơn).

Đối với số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, ngành trong tỉnh, nội dung đơn khiếu nại tập trung vào các lĩnh vực chính như: Bồi thường giải phóng mặt bằng chiếm 63,5%; đất đai chiếm 22,5%, chính sách, chế độ chiếm 6,5%...

Nội dung đơn tố cáo tập trung vào những lĩnh vực chính: Vi phạm chính sách xã hội chiếm 41,2%; vi phạm luật đất đai chiếm 26,7%; làm sai nguyên tắc quản lý kinh tế, tài chính 15,6%, tham ô, tham nhũng 6,2%... Đối tượng bị tố cáo tập trung vào lãnh đạo cấp xã chiếm 31,3%; cán bộ nghiệp vụ chiếm 22,8%; trưởng, phó phòng cấp huyện chiếm 19,6%; lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước chiếm 11,5%...

Qua thực hiện công tác giải quyết đơn, các ngành, cơ quan hành chính Nhà nước trong tỉnh đã giải quyết được 95/154 đơn KNTC thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 61,7%. Trong đó, khiếu nại đã giải quyết được 65/112 đơn, đạt 58,03%; tố cáo 30/42 đơn, đạt 71,4%. Kết quả, khiếu nại đúng chiếm 9,09%; khiếu nại sai chiếm 77,27%; khiếu nại có đúng, có sai chiếm 13,64%. Tố cáo đúng chiếm 8%; tố cáo sai chiếm 76% và tố cáo có đúng, có sai chiếm 16%.

Giải quyết KNTC về bồi thường hỗ trợ cho các đối tượng bị thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển được các cấp, ngành đặc biệt quan tâm.
Giải quyết KNTC về bồi thường hỗ trợ cho các đối tượng bị thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển được các cấp, ngành đặc biệt quan tâm.

Có thể nói, hoạt động tiếp công dân định kỳ và tiếp công dân thường xuyên trong 6 tháng đầu năm 2017 cơ bản được các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, ngành trong tỉnh thực hiện bảo đảm đúng quy định. Lãnh đạo và cán bộ tiếp dân của các cơ quan, đơn vị cơ bản đã tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của mình trong việc tổ chức tiếp công dân; đã trực tiếp lắng nghe, tiếp nhận, xem xét, giải thích, hướng dẫn, trả lời và giải quyết kịp thời các kiến nghị, phản ánh, KNTC chính đáng của công dân theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, giao trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc thủ trưởng các cấp, ngành giải quyết kịp thời các KNTC của công dân. Đặc biệt, lãnh đạo tỉnh và đại diện các sở, ngành luôn nắm chắc vụ việc, trả lời đúng trọng tâm, trọng điểm các nội dung của công dân nêu lên, những vấn đề chưa trả lời ngay được lãnh đạo tỉnh tiếp thu giao trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị giải quyết trả lời công dân theo quy định.

Bên cạnh những kết quả đạt được nói trên, đánh giá khách quan mà nói hoạt động tiếp công dân, giải quyết KNTC vẫn còn một số vấn đề tồn tại. Đó là, một số việc đã được lãnh đạo tỉnh kết luận, giao trách nhiệm các cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xem xét giải quyết nhưng chưa dứt điểm, chậm so với thời gian quy định càng làm tăng thêm bức xúc cho nhân dân.

Ngược lại một số đơn khiếu nại, kiến nghị đã được các cơ quan hành chính giải quyết, kể cả một số quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch UBND tỉnh mặc dù đúng trình tự thủ tục, đúng quy định của pháp luật, nhưng người khiếu nại vẫn tiếp tục đến trụ sở tiếp công dân khiếu nại tiếp hoặc chuyển qua tố cáo người giải quyết khiếu nại mà không khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011.

Tại Điều 42 Luật Khiếu nại quy định: Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 37 của luật này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần 2 thì có quyền khởi khiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Đối với trường hợp này chỉ cần giải thích và hướng dẫn cho công dân khởi kiện ra Tòa theo đúng quy định của pháp luật. Và không nên giao cho các cơ quan chuyên môn kiểm tra, rà soát trả lời công dân.

Bởi cách giải quyết như vậy người KNTC càng nuôi hy vọng có sự thay đổi sau kiểm tra, rà soát đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến công dân đeo bám khiếu nại các cơ quan hành chính nhà nước mà không khởi kiện ra Tòa án theo quy định của pháp luật.

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả tiếp công dân, giải quyết KNTC trong thời gian tới, Thanh tra tỉnh đã đề nghị của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, ngành trong tỉnh cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Trước hết, tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 35- CT/TW, ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết KNTC. Đặc biệt thực hiện có hiệu quả thực sự nội dung cơ bản của Chỉ thị, đó là phải nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC.

Có làm tốt được công tác này thì mới bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Qua đó, tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, cũng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Cần lấy hiệu quả của công tác tiếp công dân và giải quyết KNTC làm tiêu chí đánh giá năng lực, kết quả công tác của cán bộ.

Tiếp đó, thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp công dân theo quy định của Luật Tiếp công dân và phải gắn kết chặt chẽ việc tiếp công dân với xử lý, giải quyết KNTC, kiến nghị, phản ảnh. Chú trọng hơn nữa việc tiếp công dân tại cơ sở để trực tiếp lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của công dân; đối thoại thẳng thắn với công dân, kết hợp vận động, thuyết phục công dân để giải quyết triệt để khiếu kiện, bức xúc của công dân để hạn chế tối đã việc xẩy ra việc tụ tập đông người, KNTC vượt cấp.

Đồng thời, kiên quyết từ chối tiếp đối với những người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy tiếp công dân; người KNTC về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình KNTC kéo dài.

Trong thực hiện công tác tiếp công dân, cần quán triệt phương châm, quan điểm: Tiếp công dân thật sự có ý nghĩa và hiệu quả được dân tin khi mà mỗi cán bộ, công chức tiếp công dân gần dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân. Sau mỗi kỳ tiếp công dân giải quyết được bao nhiêu kiến nghị, đề xuất chính đáng của công dân, chứ không chỉ dừng lại ở số liệu tiếp được bao nhiêu người.

Để góp phần nâng cao kết quả tiếp công dân và giải quyết KNTC, phản ánh, kiến nghị của công dân cần thực hiện tốt hơn nữa vấn đề kiện toàn, bồi dưỡng đội ngủ cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân không chỉ có phẩm chất đạo đức tốt mà còn có khả năng giao tiếp, nắm được tâm lý của từng đối tượng hướng dẫn, gải thích, thuyết phục để công dân hiểu và chấp hành đúng pháp luật.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án Đổi mới công tác tiếp công dân theo Quyết định số 858/QĐ-TTg, ngày 14-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC...

Bùi Thành



 

,
.
.
.